Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Vịnh khoa thi Hương


    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lâm Thị Minh Châu (trang riêng)
    Ngày gửi: 23h:51' 27-10-2008
    Dung lượng: 37.5 KB
    Số lượt tải: 630
    Số lượt thích: 0 người
    GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 11
    To:å Ngữ Văn ĐỌC THÊM: VỊNH KHOA THI HƯƠNG
    (Trần Tế Xương)
    -----***-----

    Hướng dẫn đọc thêm
    Yêu cầu cần đạt
    
    I. Tìm hiểu chung:
    Đọc tiểu dẫn và các chú thích – trang 33 (SGK)
    II. Đọc hiểu:
    Trả lời các câu hỏi ở phần hướng dẫn đọc thêm trang 34 (SGK) :
    Câu 1: Hai câu đầu cho thấy kỳ thi có gì khác thường? (Chú ý phân tích kĩ từ “lẫn”)



    Câu 2: Anh (chị) có nhận xét gì về hình ảnh sĩ tử và quan trường? (Chú ý các từ “lôi thôi”, “ậm ọe”với biện pháp nghệ thuật đảo ngữ; các hình ảnh “vai đeo lọ”ï của sĩ tử, “miệng thét loa” của quan trường). Từ hai câu thơ 3 và 4, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về cảnh thi cử lúc bấy giờ?



    Câu 3: Phân tích hình ảnh quan sứ, bà đầm và sức mạnh châm biếm, đả kích của biện pháp nghệ thuật đối ở hai câu 5,6.



    Câu 4: Phân tích tâm trạng, thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi. Lời nhắn gọi của Tú Xương ở hai câu thơ cuối có ý nghĩa tư tưởng gì?



    
    Giới thiệu bài Vịnh khoa thi hương của Trần tế Xương.





    Hai câu thơ mở đầu có tính chất tự sự, nhằm kể lại cuộc thi. Mới đọc câu thơ thấy không có gì đặc biệt:kì thi mở theo đúng tục lệ “ba năm mở một khoa”. Nhưng đến câu thơ thứ hai thì sự bất bình thường đã bộc lộ rõ trong cách tổ chức: “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Từ “lẫn” đã thể hiện rõ sự ô hợp, nhộn nhạo trong thi cử.
    Hai câu thực thể hiện rõ sự ô hợp của kì thi. Tác giả chú ý miêu tả được hai đối tượng chủ yếu nhất trong các kì thi: sĩ tử (người đi thi) và quan trường (người coi thi). Dùng biện pháp đảo ngữ “lôi thôi sĩ tử”, tác giả vừa nhấn mạnh đến sự luộm thuộm, không gọn gàng, vừa khái quát được những hình ảnh sĩ tử trong kì thi ấy. Đó là hình ảnh khái quát được sự sa sút về “nho phong sĩ khí” do sự ô hợp, nhốn nháo của xã hội đưa lại.
    Hình ảnh quan trường “ậm ọe miệng thét loa” gợi lên cái oai nhưng lại là cái oai cố tạo ra. Từ “ậm ọe” biểu đạt âm thanh của tiếng nói nhưng bị cản lại trong cổ họng đã khẳng định cái oai “vờ” của quan trường. Biện pháp đảo ngữ “ậm ọe quan trường” đã giúp người đọc thấy được tính chất lộn xộn của kì thi.
    Đối lập lại với hình ảnh sĩ tử và quan trường là hình ảnh quan sứ và bà đầm. Hai nhân vật này được đón tiếp rất linh đình “cờ cắm rợp trời”. Biện pháp đảo ngữ kết hợp với nghệ thuật đối đã được vận dụng một cách triệt để, tạo nên sức mạnh đả kích, châm biếm dữ dội, “cờ” che đầu quan sứ đối với “váy” bà đầm tạo nên một tiếng cười nhưng ẩn trong đó cũng không ít nỗi xót xa.


    Hai câu kết chuyển đổi giọng điệu từ mỉa mai, châm biếm sang trữ tình. Đó là lời kêu gọi, đánh thức lương tri. Câu hỏi phiếm chỉ “nhân tài đất Bắc nào ai đó” không chỉ hướng đến các sĩ tử thi năm đó mà còn là những người được xem là “nhân tài đất Bắc”, hãy “ngoảnh cổ mà trông cảnh trước nhà”. Từ một khoa thi nhưng bức tranh hiện thực xã hội năm Đinh Dậu đã được hiện lên. Bên cạnh đó còn là nỗi nhục đất nước, là sự tác động đến tâm linh người đọc.
    
    
     
     
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print