Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Giáo trình: Ngữ âm tiếng việt

(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Văn Chung (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:52' 28-06-2008
Dung lượng: 264.5 KB
Số lượt tải: 572
Số lượt thích: 0 người


BÀI GIẢNG NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
ÐỐI TƯỢNG VÀ VỊ TRÍ CỦA NGỮ ÂM HỌC
Ngữ âm học và âm vị học
Vị trí của môn ngữ âm học
CƠ SỞ CỦA NGỮ ÂM
Cơ sở ngữ âm
Cơ sở sinh lí học
Cơ sở xã hội
Các đặc trưng ngữ âm
Đặc điểm cấu tạo của nguyên âm và phụ âm
ÂM TỐ
Định nghĩa
Các loại âm tố
Ý nghĩa của sự phân loại âm tố về mặt cấu âm  và âm học
ÂM VỊ
Định nghĩa
Biến thể của âm vị
Các nét khu biệt âm vị và sự đối lập âm vị
Phiên âm ngữ âm học
ÂM TIẾT
Định nghĩa
Cấu tạo về cách phát âm của âm tiếng việt
Đặc điểm của âm tiết tiếng việt
Các vị trí cũa mô hình âm tiết
Phân loại âm tiết tiếng việt
Sự biến hóa ngữ âm
HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
Hệ thống phụ âm đầu
Hệ thống âm đệm
Hệ thống âm chính
Hệ thống âm cuối
Thanh điệu
Ngữ điệu
PHẦN BẢI TẬP

I -  ÐỐI TƯỢNG VÀ VỊ TRÍ CỦA NGỮ ÂM HỌC


          1-   Ngữ âm học và âm vị  học
TOP

a- Ngữ âm học :
Trong cuộc sống con người luôn lu6n phải giao tếp với nhau . Sự giao tiếp diễn ra bằng nhiều hình thức : ngôn ngữ , điệu bộ cử chỉ, hội hoạ , âm nhạc,... . Trong các hình thức trên , hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức quan trọng nhất.
          Ðể hiểu nhau con người luôn phải nắm bắt một cái gì đó trong khi giao tiếp. Cái gì đó , đó chính là đối tượng nghiên cứu của ngữ âm học và âm vị học.
          Các âm của ngôn ngữ có thể được nghiên cứu từ nhiều góc độ , do đó  đã hình thành ba phân môn là : Ngữ âm học cấu âm ( Nghiên cứu các âm của ngôn ngữ theo quan điểm của người nói) , ngữ âm học thính âm (nghiên cứu các âm của ngôn ngữ theo quan điểäm của người nghe), và ngữ âm học âm học ( Nghiên cứu những đặc điểm vật lí của ngữ âm khi chúng được truyền từ miệng đến tai. Trong trường hợp này các dụng cụ như máy ghi dao động, quang phổ, đã được dùng để chuyển một âm sang một hình thức thể hiện có thể nhìn thấy được ).
          Vậy, ngữ âm học là môn học nghiên cứu chất liệu âm thanh của ngôn ngữ , nghiên cứu những chất liệu này trong trong những đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ và mối liên hệ giữa hình thức âm thanh và chữ viết .
          - Ngữ âm học nghiên cứu hình thức ngữ âm của ngôn ngữ từ những quan điểm khác nhau :
                   * Từ những đặc trưng vật lí âm học của chúng .
                   * Từ những hoạt động của cơ quan phát âm tương ứng của con người.
          - Ngữ âm học bao gồm những bộ môn nhỏ :
                   * Ngữ âm học đại cương : nghiên cứu phần lí luận chung của ngữ âm.
                   * Ngữ âm học miêu tả : nghiên cứu ngữ âm của một ngôn ngữ nhất định.
                   * Ngữ âm học lịch sử : nghiên cứu sự biến đổi ngữ âm qua qúa trình lịch sử và qui luật của nó .
                   * Ngữ âm học so sánh : nghiên cứu và so sánh ngữ âm giữa các ngôn ngữ để tìm mối quan hệ về nguồn gốc và loại hình của nó .
            b-Âm vị học : Là một bộ môn khoa học nghiên cứu về việc sử dụng các vai trò của các âm tố và các hiện tượng âm thanh khác trong hoạt động của ngôn ngữ như một công cụ giao tế của con người. Ðây là lĩnh vực nghiên cứu của một bộ môn riêng , hiện nay âm vị học được coi như là một bộ phận của ngữ âm học nói chung .
          2- Vị trí của môn ngữ âm học
TOP

          Ngữ âm học có ý nghĩa thực hành lớn , nó cung cấp cho ta phương pháp đúng để dạy viết và đọc , cho ta cơ sở phát âm đúng tiếng mẹ đẻ đồng thời phát âm đúng tiếng nước ngoài, trang bị cho chúng ta cơ sở lí luận và kiến thức để tạo nên hệ thống chữ viết hợp lí , cho ta cơ sở để nghiên cứu các bệnh về lời nói có liên quan đến bộ máy phát âm và hoạt động của não ... Ngữ âm học còn được ứng dụng vào các công việc kĩ thuật khác : Kĩ thuật truyền tin , nhận diện tự động và tổng hợp lời nói một cách nhân tạo.
          Ngữ âm học đã có nhiều đóng góp quan trọng về mặt lí luận . Qua cơ cấu ngữ âm chúng ta hiểu ngôn ngữ là một hệ thống toàn vẹn , cân đối .  Ngữ âm  là nơi thí nghiệm của ngôn ngữ học vì ngữ âm thường ít thay đổi và cũng đơn giản hơn các bộ môn ngôn ngữ khác .
          Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu. Khi nói vỏ vật chất của tín hiệu được biểu thị bằng âm thanh , khi viết nó được biểu hiện bằng chữ .Chữ viết ghi lại hình ảnh âm thanh của ngôn ngữ , nhưng không phải bao giờ chúng cũng được biểu thị theo cách một âm một chữ mà đôi khi có những âm được biểu thị bằng hai hoặc ba con chữ khác nhau
II - CƠ SỞ CỦA NGỮ ÂM 


          1- Cơ sở âm học
TOP

          Aâm thanh ngôn ngữ cũng như mọi âm thanh khác trong cuộc sống , chúng đều có chung một cơ sở vật chất : Ðó là cơ sở vật lí : Những âm thanh nói chung được tạo thành nhờ sự chấn động của các phân tử không khí , các vật thể đàn hồi , chúng phụ thuộc vào các yếu to ánhư : vật thể chấn động , môi trường truyền âm, lực tác động ..
          Aâm thanh ngôn ngữ được tạo thành do sự rung động của dây thanh và sự hoạt động của các khí quan khác trong bộ máy phát âm . Khác với các âm thanh tự nhiên , âm thanh ngôn ngữ phải là các âm thanh đi qua bộ máy phát âm của con người và có mang nội dung thông báo. Aâm thanh ngôn ngữ chỉ có thể là những chấn động mà cơ quan thính giác của con người có thể lĩnh hội được .
          Chính vì vậy, âm thanh ngôn ngữ có những đặc trưng riêng biệt :
          - Ðộ cao:
          - Ðộ mạnh :
          - Ðộ dài:
- Âm sắc :
          2- Cơ sở sinh lí học
TOP

          Bộ máy phát âm tức là toàn bộ những cơ cấu sinh lí có liên quan âm thanh ngôn ngữ như: môi , răng , lưỡi, khoang miệng, khoang mũi,....Tuy nhiên bộ máy phát âm của con người bao gồm những phần lớn như:
          - Phổi : Là cái tạo ra không khí . Muốn tạo ra một âm trước hết cần phải có luồng hơi . Trong phần lớn các ngôn ngữ , luồng hơi được tạo ra từ phổi và mỡi âm tùng với một hơi thở ra .
          - Thanh hầu và dây thanh
          - Các khoang trên thanh hầu
                   (Sơ đồ bộ máy phát âm của con người.)
          3- Cơ sở xã hội
TOP

          Các âm thanh ngôn ngữ không chỉ là những chấn động được truyền trong môi trường không khí , và cũng không chỉ là kết qủa của hoạt động của bộ máy phát âm , mà còn là những đơng vị âm thanh ngôn ngữ mang chức năng ngữ nghĩa và dùng để giao tiếp trong cuộc sống. Mỗi ngôn ngữ có những âm thanh ngôn ngữ mang chức năng ngữ nghĩa khác nhau, có những âm thanh được sử dụng ở ngôn ngữ này nhưng lại không sử dụng ở ngôn ngữ khác, vì thế ngữ âm còn có thêm cơ sở xã hội .Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống âm vị riêng , và hệ thống âm vị này lại có quá trình biến đổi theo sự phát triển lịch sử của mỗi dân tộc .
          4-Các đặc trưng ngữ âm
TOP

          Mỗi kí hiệu ngôn ngữ đều có hình thức diễn đạt bằng âm thanh của nó .Có những từ sự khác biệt được thể hiện trên số lượng các âm tiết tham gia , hoặc ngay cả trên một từ khi mà số lượng âm tiết bằng nhau chúng cũng thể hiện sự khác nhau rất rõ.
          Tuy nhiên có những từ mà sự khác biệt dường như chỉ thể hiện trên một âm nào đó : ví như đàn và tàn , chúng khác biệt nhau chỉ ở một đặc trưng : sự chấn động của dây thanh trong khi phát âm hoặc không . Chính vì vậy, miêu tả ngôn ngữ không thể không biết đến những đặc trưng ngữ âm của mỗi cấu tạo âm thanh .
          Aâm thanh do con người phát ra dùng để giao tiếp được cấu tạo bởi luồng không khí từ phổi đi lên qua thanh hầu. Hai dây thanh ,tức hai tổ chức cơ nằm sóng nhau trong thanh hầu, với sự điều khiển của thần kinh chấn động cho phép luồng không khí thoát ra thành từng đợt nối tiếp nhau tạo nên những sóng âm. dây thanh này dày mỏng khác nhau và tuỳ theo sự chấn động mạnh yếu khác nhau cho ta những âm thanh cao thấp khác nhau. Tuy nhiên, trong quá trình đi ra của luồng không khí những âm thanh do dây thanh tạo nên còn được sự cộng hưởng của các khoang miệng hoặc khoang mũi.
          Âm này nếu thoát ra ngoài tự do, đặc trưng âm học là có tần số ổn định , chu kì đều đặn , có âm hưởng êm ái dễ nghe, chúng được gọi là tiếng thanh, trong ngôn ngữ đó là các nguyên âm .
Ngược lại, luồng không khí từ phổi đi lên qua thanh hầu có thể không tiếp nhận được một âm nào do chỗ dây thanh không hoạt động và để ngỏ . Trong quá trình thoát ra ngoài nếu gặp một sự cản trở nào đó ví như sự tiếp xúc của đầu lưỡi với răng .Những tiếng này không dễ nghe , có tần số không ổn định, có chu kì không đều đặn ,những âm thanh này gọi là tiếng động , chúng là các phụ âm .
Còn có một loại trung gian vừa mang tính chất nguyên âm vừa mang tính chất phụ âm  được gọi là bán nguyên âm đơn hay bán phụ âm .Ðó là những âm như I, hoặcu trong các âm tiết như chạy , Khuya….
          5- Ðặc điểm cấu tạo của nguyên âm và phụ âm
TOP

          Với nguyên âm : Thứ nhất : Luồng hơi đi ra tư do, không bị cản trở, không có vị trí cấu âm. Thứ hai , Bộ máy phát âm hoạt động toàn thể . Thứ ba, khi phát âm nguyên âm luồng hơi đi ra yếu ( dây thanh runh hoặc không rung ).
          Với phụ âm : Thứ nhất, Luồng hơi bị cản trở do sự xuất hiện của chướng ngại trên lối thoát của không khí . Các chướng ngại này thường là các tiêu điểm cấu âm cụ thể của mỗi âm thanh. ( thường gọi là vị trí cấu âm). Thứ hai, bộ máy phát âm hoạt động xảy ra ở những cơ thịt , tập trung ở vị trí cấu âm . Thứ ba, luồng hơi thoát ra mạnh
III -  ÂM TỐ


          1- Ðịnh nghĩa
TOP

Âm tố là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không mang chức năng phân biệt nghĩa và nhận diện từ .
          Theo ông Ðoàn Thiện Thuật thì : Aâm tố là đôn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói có thể tách ra về mặt cấu âm thính giác , đồng chất trong một khoảng thời gian nhất định và thường tương ứng với mỗi một âm vị .
          Như vậy nói đến âm tố là nói đến mặt tự nhiên của ngữ âm ( bao gồm cơ sở âm học và snh lí ).
          Âm tố là những yếu tố tự nhiên . Chúng phụ thuộc vào các yếu tố như : ngữ điệu, hoàn cảnh phát âm khi chúng kết hợp với các yếu tố khác trong cùng một âm tiết , bộ máy phát âm của mỗi cá nhân. Chính vì vậy , khi nói về số lượng của âm tố người ta không thể đếm được , chúng có vô vàn trong cuộc sống và chúng không phải là các yếu tố chuẩn .
          Kí hiệu của âm tố là chúng được phiên âm giữa hai gạch vuông [  ] .
Ví dụ : [ b ], [ d ],...    Ngoài chúng còn có một
 
Gửi ý kiến
print