Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Sáng kiến kinh nghiệm môn Lịch sử THCS

(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Đình Tú
Ngày gửi: 19h:35' 21-06-2008
Dung lượng: 64.0 KB
Số lượt tải: 3613
Số lượt thích: 0 người


Mục lục

A- đặt vấn đề
1- Cơ sở lí luận.
2- Cơ sở thực tiễn.
B- nội dung.

Kĩ năng xây dựng bản đồ.
1- Kĩ năng xác định nội dung lịch sử được thực hiện trên bản đồ.
2- Kĩ năng xây dựng bản đồ sách giáo khoa lịch sử.
II- Rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử.
1- Sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử.
2- Hướng dẫn học sinh đọc bản đồ lịch sử.
III- Phương pháp sử dụng lược đồ cụ thể trong bài " Chiến dịch lịch sử điện biên phủ"
1- Chuẩn bị lược đồ.
2- Cách vẽ các kí hiệu trên lược đồ
3- Cách chỉ lược đồ.
IV- Kết quả cụ thể đạt được.
V- Bài học kinh nghiệm

c- Kết luận,.
1- kết luận.
2- đề xuất, kiến nghị




















A- đặt vấn đề

1- Cơ sở lí luận.





















B- Nội dung và phương pháp thực hiện.
I- Kĩ năng xây dựng bản đồ:
1- Kĩ năng xác định nội dung lịch sử được thể hiện trên bản đồ.
Bản đồ lịch sử hiện nay là đồ dùng trực quan chủ yếu trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nó không chỉ minh hoạ, cụ thể hoá kiến thức mà còn bổ sung, làm phong phú kiến thức cư bản trình bày trong sách giáo khoa. Bản đố lịch sử là một nguồn cung cấp kiến thức mới, ôn tập, phát triển tư duy, khả năng hoạt động độc lập của học sinh. Đồng thời việc sử dụng bản đố lịch sử cũng tránh đựơc sự "quá tải", "nhồi nhét" kiến thức cho học sinh . Vậy bản đồ giáo khoa lịch sử phải thể hiện những nội dung kiến thức sau:
Trước hết, đó là những tư liệu về những điều kiện tự nhiên của đời sống của xã hội, nhất là những tài liệu về địa lí có liên quan đến sự kiện lịch sử đang học như : núi, sông, đường biên giới, địa hình ... Điều này rất cần cho việc học lịch sử các quýôc gia cổ đại (lớp 6 ) và diễn biến các trận đánh. Trình bày, tìm hiểu diễn biến các trận đánh mà không nắm vững địa hình thì không thấy được tài nghệ trí thông minh của cha ông, của các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược trong việc sử dụng điều kiện tự nhiên, để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn mình. Ví dụ lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938 ( lớp 6 ) sẽ thấy được điều này.
Thứ hai, đó là những hoạt động trong đời sống của con người như các điểm dân cư, các lãnh thổ, quốc gia, những cơ sở sản xuất ( nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, văn hoá... Đây là nội dung thể hiện tính toàn diện của lịch sử xã hội trên mọi mặt của đời sống xã hội.
Việc xác định các biên giới, quốc gia, các lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất đối với nội dụng của bản đồ lịch sử và nó thể hiện một kiến thức về địa lí, lịch sử qua đó mà hiểu rõ sự phát triển của quốc gia, dân tộc việc bẩo vệ độc lập dân tộc.
Thứ ba, việc sử dụng các kí hiệu trên bản đồ không chỉ có ý nghĩa minh hoạ mà còn có tác dụng giáo dưỡng, giáo dục lớn ( góp phần tạo biểu tượng, gây xúc cảm và tư duy... ) Mỗi kí hiệu đều được ghi trên bản đồ đều mang một ý nghĩa, nội dung lịch sử nào đó. Vì vậy trước khi giảng dạy và học, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh quan sát, "đọc" bản đồ, người giáo viên phải hiểu rõ các kí hiệu và phải giới thiệu cho học sinh .
Để hiểu và xác định đúng nội dung lịch sử được thể hiện trên bản đồ, trước tiên phải hiểu sâu sắc nội dung bài giảng trong sách giáo khoa. Mỗi nét, mỗi kí hiệu trên bản đồ lịch sử đều mang ý nghĩa, nội dung lịch sử nào đó của bài giảng đòi hỏi người sử dụng phải nghiên cứu, tìm hiểu. Thông thường những kí hiệu thể hiện trên bản đồ được thống nhất như sau:
Kí hiệu mầu sắc: Địa hình - mầu xanh lá mạ; cao nguyên – mầu vàng; miền núi – mầu da cam; biển mầu – xanh lam, xanh da trời....Nếu để thể hiện các chế độ xã hội khác nhau thì mầu hồng được thể hiện cho chế độ xã hội chủ nghĩa ( Các nước XHCN) mầu nâu thể hiện các nước thuộc địa, phụ thuộc, mầu xanh thẫm thể hiện các nước tư bản, đế quốc chủ nghĩa. ..
Kí hiệu chữ : Thủ đô các nước chữ in to, bên cạnh có kí hiệu ngôi sao hoặc sử dụng kí hiệu hoá học như Pb ( chì), Cu ( đồng )...
Kí hiệu hình học : hình vuông (than) (sắt)
Kí hiệu trực quan minh hoạ: mũi tên có mầu sắc khác nhau để diễn tả tấn công hay rút lui trong trận đánh, chiến tranh – hình người cầm cờ( bên chiến thắng), người giơ hai tay lên trời (X) bên chiến bại...
Dựa vào những quy ước trên ta cũng có thể tự vẽ một lược đồ nào đó nếu đồ dùng đó chưa có hay nhiều loại bản đố mà ta cần. Tuy nhiên, chữ viết trên bản đồ cần rõ ràng, đẹp để học sinh quan sát, việc thể hiện nội dung, hình thức trên bản đồ phải tuân theo qui tắc chung, bảo đảm tính tính khoa học, tính tư tương, tính sư phạm.
2- Kĩ năng xây dựng bản đồ lịch sử:
Xây một bản đồ lịch sử dùng để giảng dậy cần căn cứ vào yêu cầu nội dung tài liệu bản đồ lịch sử, các sách giáo khoa lịch sử ( kể cả sách giáo khoa, át lát lịch sử của nước ngoài) và các sách báo lịch sử khác .
II- Rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử:
Sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử .
Khi đã xây dựng được bản đồ, việc sử dụng bản đồ như thế nào trong dạy học lịch sử cung là yếu tố hết sức quan trọng để nâng cao hiệu quả dạy học. Muốn sử dụng có hiệu quả yêu cầu người giáo viên phải tuân theo quy trình sau:
Xác định mục đích của việc làm .
- Hiểu rõ những kiến thức lịch sử, địa lí được thể hiện trên bản đồ : Tên bản đồ, đọc bản chú giải trên bản đồ để biết kí hiệu qui ước, kí hiệu biểu tưởng địa lí, lịch sử biểu tượng trên bản đồ ...
- Cách tiến hành bài giảng khi sử dụng bản đồ lịch sử ( Chú ý cách treo, cách chỉ bản đồ)
Khi treo bản đồ không nên treo ở giữa bảng đen, vì bảng còn dùng để viêt, phải treo ở chỗ cao ở góc bên phải bảng, nơi có đủ ánh sáng cho tất cả học sinh nhìn thấy rõ. Giáo viên phải đứng bên phải bản đồ, dùng bút chỉ bản đồ ( hay là một cái dâu ăng ten của đài hoặc ti vi) chỉ các địa điểm cho thật chính xác. Khi xác định một vị trí, giáo viên không nên nói một cách mơ hồ rằng vị trí này ở phía "bên trái" mà phải chỉ phương hướng của vị trí ( "phía Tây " hay "phía Đông" hay " phía Bắc"...) Nếu là một khu vực hay căn cứ quân sự thì giáo viên phải chỉ đúng kí hiệu trên bản đồ ; nếu là con sông thì phải chỉ từ thượng lưu đến hạ lưu ( theo dòng chảy của sông ), cũng có khi vị trí xuất kích đi ngược dòng chảy của sông thì phải nói là đi "ngược"(Ví dụ trong chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947:địch ngược sông Hồng, sông Lô lên Tuyên Quang, Chiêm Hoá...)
Kiểm tra kết quả khi sử dụng ( kiểm tra việc nắm bắt của học sinh qua đọc bản đồ).
2- Hướng dẫn học sinh "đọc" bản đồ lịch sử.
Đọc bản đồ lá loại kĩ năng hoàn thiện dựa trên cơ sở hiểu bản đồ. Để đọc được bản đồ học sinh phải nắm được các công việc sau:
- Nhận biết các kí hiệu và có biểu tượng rõ ràng về các hiện tượng địa lí : biên giới giữa các quốc gia, sông núi cung như các kí hiệu về chiến dịch, trận đánh.
- Từ hiểu kí hiệu trên bản đồ, nắm nội dung lịch sử, có biểu tượng cụ thể về một số biến cố, hiện tượng lịch sử được biểu diễn trên bản đồ.
- Biết so sánh, phân tích, trình bày lại bằng ngôn ngữ của mình những nội dung lịch sử thông qua các kí hiệu trên bản đồ.
3- Một số cách làm có hiệu quả đối với bản đồ .
Khi nói đến địa danh, lãnh thổ hay khu vực địa lí nào đó, giáo viên vừa giảng rõ ràng, chậm, vừa chỉ những địa danh đó trên bản đồ.
Để giúp hoch sinh ghi nhớ vị trí các đôis tượng địa lí trên bản đồ, giáo viên khi dạy có thể sử dụng những mảng mầu khác nhau gắn lên bản đồ để làm nổi bật vị trí của sự kiện lịch sử.
Cũng có khi giáo viên kết hợp bản đồ treo tường với vẽ biểu tượng hình dáng khu vực địa lí đó lên bảng ( Ví dụ: Việt Nam và khu vực "Đông Nam á " trước nạn ngoai xâm – Lịch sử 8 )
Tiến hành thực hành nhiều lần với bản đồ.
III- Phương pháp sử dụng lược đồ cụ thể trong bài
Chuẩn bị lược đồ.
Bài này là tiết 36, học kì II thuộc nội dung chương trình lịch sử lớp 9. Giáo viên chuẩn bị 2 lược đồ :
- Lược đồ chiến trường Đông Dương ( trên đất liền) (1953-1954) để học sinh nắm được vị trí của Điện Biên Phủ, từ đó học sinh sẽ hình dung được trong đầu đây là một tập đoàn cứ điểm bị cô lập sau các cuộc tấn công của ta ( cuối 1953 đầu nă 1954). Lược đồ này dùng cho phần 1.
- Thứ hai là lược đồ các đợt tiến công của quân ta vào " Điện Biên Phủ". Lược đồ nỳ dùng cho cả phần 1 và phần 2 .
2- Cách vẽ các kí hiệu trên bản đồ, lược đồ.
Với lược đồ: các đợt tiến công của quân ta vào Điện Biên Phủ cần kí hiệu như sau:
- Cần vẽ được ba phân khu:
+ Phân khu Bắc : Vẽ được các cứ điểm của địch ở đồi Him Lam, Độc lập và Bản Kéo bằng chấm đen ( •) và Bản ( ).
+ Phân khu trung tâm Mường Thanh : Vẽ các kí hiệu sau: • chỉ huy đị
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

print