Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    giao an li 8 ca nam day du

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đỗ Thoa
    Ngày gửi: 11h:33' 13-06-2008
    Dung lượng: 474.0 KB
    Số lượt tải: 240
    Số lượt thích: 0 người
    Cộng hoà hội chủ nghĩa việt nam
    Độc lập - tự do - hạnh phúc
    ******

    A. sơ yếu lý lịch


    Họ và tên : Bùi Thị Hòa
    Sinh ngày : 06 / 01/ 1972
    Năm vào ngành : 1992.
    Ngày vào Đảng : 5/8/1996
    Chức vụ : Tổ phó tổ tự nhiên
    Đơn vị công tác : THCS Ba trại – Ba Vì - Hà Tây
    Trình độ chuyên môn : Đại học sư phạm ban Toán
    Hệ đào tạo : Từ xa
    Môn giảng dạy : Toán - Lý
    Ngoại ngữ : A - Anh.
    Chính trị : Sơ cṍp
    Khen thưởng: Đạt giải Ba trong Hội thi Giáo viên dạy giỏi môn
    Vật lý huyện Ba Vì năm học 2007 – 2008.




    B. Nội dung đề tài :

    1. Tên đề tài :
    “Hướng dẫn học sinh giải bài tập chuyển động cơ học”
    2. Lý do chọn đề tài :
    Mục tiêu của trường THCS là đào tạo những con người vừa hồng vừa chuyên. Nhằm giúp học sinh nắm vững các kiến thức trọng tâm,biết cách vận dụng các kiến thức đã học để giải các câu hỏi bài tập cơ bản và các bài tập tổng hợp nâng cao.
    Bài tập Vật lý giúp học sinh hiểu, đào sâu kiến thức khắc sâu thêm phần lý thuyết và giúp cho học sinh giải thích được các hiện tượng xung quanh.
    “Bài tập chuyển động cơ học” là một phần không thể thiếu trong chương trình vật lý THCS. Đây là kiến thức quan trọng và rất hay, nó phong phú, đa dạng, trừu tượng luôn có trong bài thi học sinh giỏi môn Vật lý THCS.
    Để có một lời giải đúng, chính xác thỏa mãn yêu cầu đặt ra của một bài tập không dễ dàng đối với giáo viên khi hướng dẫn và càng khó khăn hơn đối với học sinh khi giải bài tập. Phân phối chương trình Vật lý 8 chỉ có 3 tiết lý thuyết. Học sinh thật khó khăn khi gặp phải những bài tập về chuyển động tròn, chuyển động đều và chuyển động không đều. Mối quan hệ giữa tốc độ, thời gian chuyển động và quãng đường đi được chỉ bằng những công thức, lý luận trong sách giáo khoa thì đây là khó khăn lớn của người học cũng như người dạy. Để giải được bài tập dạng này học sinh không những sử dụng kiến thức Vật lý mà còn sử dụng kiến thức Toán học.
    Qua 16 năm giảng dạy thực tế và những kiến thực học ở trường Sư phạm – học hỏi bạn bè đồng nghiệp. Đặc biệt trong năm học 2007 – 2008 là người đạt giải Ba trong: Hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp huyện môn Vật lý lớp 8. Tôi rất trăn trở và mạnh dạn từng bước, từng năm tìm tòi những biện pháp tối ưu nhất với phương châm vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Để đưa chất lượng dạy và học ngày càng tốt hơn.
    Vậy tôi chọn đề tài:
    “Hướng dẫn học sinh giải bài tập chuyển động cơ học”.
    Với hy vọng từ đề tài này, phần nào khắc phục được những khó khăn mà các em gặp phải khi làm bài tập . Các em có thể chốt lại kiến thức cho mình một cách vững chắc tự tin khi gặp các bài tập dạng này.
    3. Mục đích của đề tài.
    Đề tài có nhiệm vụ tìm ra giải pháp nhằm tổng kết phương pháp giải bài tập và một số dạng bài tập trong chuyển động cơ học
    4. Phạm vi và thời gian thực hiện.
    Thực hiện trong lớp 8G - 8C – Trường THCS Ba Trại - năm học 2007-2008


    C. Quá trình thực hiện đề tài
    I. Khảo sát thực tế:
    - Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài :
    a) Thuận lợi :
    Giáo viên là người sống và làm việc nhiều năm ở trường có bề dày thành tích. Là người Đảng viên ưu tú, nhiệt tình say xưa với công việc được giao. Bạn bè đồng nghiệp luôn động viên khích lệ, một số học sinh có ý thức ham mê vươn lên trong học tập.
    b) Khó khăn:
    Trường THCS Ba Trại là một trường miền núi, vùng sâu, vùng xa. Địa bàn rộng học sinh đi học rất xa (có em cách trường 8 – 9 km), đường giao thông đi lại kém. Có hai đối tượng học sinh là Kinh, Mường cùng học tập.
    Cơ sở vật chất còn chưa đầy đủ , đồ dùng để học sinh làm thí nghiệm còn thiếu, không chính xác, không đồng bộ, hiệu quả chỉ đạt 40% yêu cầu.
    Trình độ dân trí thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến viêc học tập, rèn luyện của con em mình. Học sinh phải lao động nhiều không có thời gian học tập. Các em coi môn Vật lý chỉ là môn phụ, chưa đầu tư chăm chỉ học tập.
    Trên lớp học sinh thường không không nắm vững kiến thức và kỹ năng vận dụng kiến thức Vật lý. Vì vậy các em giải bài tập một cách mò mẫm, không có định hướng rõ ràng, áp dụng công thức một cách máy móc và nhiều khi không giải được. Vì vậy học lực, kết quả còn hạn chế, nhiều em chán học.
    Kết quả nắm kiến thức trước khi thực hiện đề tài của hai lớp như sau:

    Lớp
    Sĩ số
    Giỏi
    Khá
    TB
    Yếu
    
    
    
    SL
    %
    SL
    %
    SL
    %
    SL
    %
    
    8C
    38
    0
    0
    3
    7,9
    19
    50
    16
    42,1
    
    8G
    42
     29
    69
    13
    31
    0
    0
    0
    0
    
    Tổng
    80
    29
    69
    16
    38,9
    19
    50
    16
    42,1
    
     Căn cứ vào bảng số liệu trên ta thấy:
    ở lớp 8C không có học sinh giỏi, học sinh khá là 7,9% , HS yếu là 42,1% tỉ lệ này quá thấp so với mục tiờu và yờu cõ̀u đặt ra của ngành GD. Tại sao ở lớp này lại không có học sinh giỏi ? Số học sinh yếu lại quá nhiều như vậy? ở lớp 8G là lớp học sinh khá, mà số học sinh giỏi chỉ đạt 68,2% chưa đạt chỉ tiêu nhà trường đề ra.
    Từ đó tôi rất trăn trở:
    Làm thế nào để trang bị kiến thức giúp học sinh rèn kỹ năng, kỹ xảo để làm tốt bài tập Vật lý nhằm nâng cao kiến thức đạt được kết quả như mong đợi.
    Những suy nghĩ trên giúp tôi từng bước tìm tòi và có các biện pháp sau:


    II Nội dung biện pháp đã thực hiện.
    Tìm hiểu nắm bắt tình hình chất lượng học sinh.
    Để thực hiện tốt cuộc vận động : “Hai không” của ngành GD . Tôi đã thường xuyên kiểm tra học sinh bằng các hình thức : miệng, 15’ ,vở bài tọ̃p vờ̀ nhà, KT định kì bằng các mã đề khác nhau, viết báo cáo thí nghiệm , học thảo luận nhóm. Từ đó Giáo viên cho điểm chính xác phân loại mức độ hiểu bài,vận dụng của học sinh để có bổ sung kiến thức phù hợp.
    2. Tham khảo tài liệu, tổng hợp kiến thức về cách giải bài tập chuyển động cơ
    học.
    Giáo viên tìm đọc thêm các tài liệu ngoài sách giáo khoa , SGV, các đề thi HS giỏi , tranh ảnh minh hoạ. Đầu tư thời gian cho HS quan sát tự làm các thí nghiệm để rút ra kiến thức trọng tâm, những công thức, chú ý các dạng bài tập ,đọc kỹ phần “Có thể mà sách giáo khoa chưa có điều kiện nói tới.
    Phân tích cho phụ huynh và học sinh biết việc cần thiết phải học tốt môn Vật lý để bổ trợ các môn học khác. Đồng thời áp dụng kiến thức vật lý giải
    thích được các hiện tượng thực tế .
    VD : - Các điểm trên bánh xe đạp là chuyển động tròn.
    - Học sinh sẽ tính được quãng đường,vận tốc và thời gian đi học từ nhà đến trường nếu biết 2 trong 3 đại lương trên.
    - Kiến thức Vật lý còn áp dụng nhiều trong kỹ thuật hiện đại: Động cơ máy bay, tên lửa, tàu hoả, tàu thuỷ ....
    Thông qua cách giảng dạy rút ra một số phương pháp để truyền đạt cho
    học sinh cách làm bài tập Vật lý.
    4.1 Quy trình tìm hiểu, các bước giải bài tập Vật lý :
    - Học thuộc phần những điều cần nhớ (Phần đóng khung sách giáo khoa) để chốt lại những kiến thức cơ bản cần nắm chắc và nhớ kỹ.
    - Giáo viên phân tích nội dung bài, yêu cầu học sinh đọc những vấn đề có liên quan, hiểu kỹ hơn một số điều mà sách giáo khoa không có điều kiện nói kỹ.
    * Khi tiến hành làm bài tập chúng ta phải tìm hiểu dữ kiện của bài toán, phân tích các hiện tượng cụ thể theo các bước sau.
    Bước 1. Viết tóm tắt các dữ kiện:
    - Đọc kỹ đầu bài (khác với thuộc đầu bài) tìm hiểu ý nghĩ của những thuật ngữ, có thể phát biểu tóm tắt, ngắn gọn, chính xác.
    - Dùng ký hiệu tóm tắt đề bài cho gì ? Hỏi gì ? Dùng hình vẽ để mô tả lại tình huống, minh họa nếu cần.
    Bước 2. phân tích nội dung làm sáng tỏ bản chất vật lý, xác lập mối liên hệ của các dữ kiện có liên quan tới công thức nào rút ra cái cần tìm, xác định phương hướng và kế hoạch giải.
    - Chuyển đổi đơn vị phù hợp với yêu cầu bài tập.
    Bước 3. Chọn công thức thích hợp kế hoạch giảng thành lập các phương trình nếu cần.
    Bước 4. Lựa chọn cách giải cho phù hợp.
    Bước 5. Kiểm tra xác nhận kết quả và biện luận.
    Tóm tắt các bước giải bài tập vật lý theo sơ đồ
















    4.2 Một số công thức cơ bản và lưu ý khi giải bài tập chuyển động cơ học.
    a. Công thức tính vận tốc, quãng đường và thời gian chuyển động.
    v =  S = v.t
    t =  Trong đó: v là vận tốc , S là quãng đường,
    t là thời gian
    Đơn vị của vận tốc là m/s hoặc km/h, đơn vị của quãng đường là mét(km), đơn vị của thời gian là giây(giờ).
    b. Đối với chuyển động không đều ta phải nói đến vận tốc trung bình: vtb =
    Chú ý:
    + ,Vận tốc trung bình trên cả đoạn đường không phải là trung bình cộng của các vận tốc trên các đoạn đường ngắn.Vì vậy khi tính vận tốc trung bình chỉ được vận dụng công thức vtb =  hoặc vtb =  không được vận dụng các công thức khác, trong thực tế chuyển động đều rất ít thường là những chuyển động không đều.
    +, 1km/h = m/s ; 1m/s = 3,6

    No_avatar

    giáo án rất hay, tôi rất thích

     
    Gửi ý kiến
    print