Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ


    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trần Thị Nga (trang riêng)
    Ngày gửi: 12h:17' 29-05-2008
    Dung lượng: 266.0 KB
    Số lượt tải: 2143
    Số lượt thích: 0 người
    Chuyên đề:
    DẠY HỌC NÊU VẤN ÐỀ

    BẢN CHẤT DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
    Kiểu dạy học nêu vấn đề
    Tình huống có vấn đề
    CẤU TRÚC DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
    Nêu vấn đề
    Giải quyết vấn đề
    Vận dụng
    CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
    Phương pháp diễn giảng nêu vấn đề
    Phương pháp đàm thoại
    Các ví dụ minh họa
    Phương pháp quan sát nêu vấn đề


    

    DẠY HỌC NÊU VẤN ÐỀ
    -----------------------
    * Tóm tắt nội dung:
    Xu hướng của lí luận dạy học hiện đại là cải tiến PPDH nhằm mục đích hướng học sinh tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học bộ môn và tăng cường hoạt động nhận thức. Trên quan điểm dạy học đó đã ra đời hệ phương pháp chuyên biệt hóa, bao gồm kiểu dạy học nêu vấn đề, kiểu dạy học chương trình hóa, kiểu dạy học theo modun...
    Xu hướng hiện đại hóa PPDH là tạo ra kiểu dạy học tập hợp nhiều PPDH cụ thể có tính khái quát cao và cùng thực hiện những mục tiêu chung. Các PPDH kiểu nêu vấn đề như diễn giảng nêu vấn đề,đàm thoại nêu vấn đề, phương pháp thí nghiệm nêu vấn đề...
    * Yêu cầu đối với sinh viên:
    Sinh viên cần nắm vững cấu trúc dạy học nêu vấn đề và vận dụng các PPDH cụ thể theo kiểu nêu vấn đề trong nội dung chương trình sinh học.
    I.BẢN CHẤT DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ:
    1.Kiểu dạy học nêu vấn đề  
    Kiểu dạy học nêu vấn đề là tập hợp nhiều PPDH cụ thể nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của HS theo con đường hình thành và giải quyết vấn đề.
    Dạy học nêu vấn đề nằm trong hệ PPDH tích cực với quan điểm học sinh là trung tâm QTDH.
    Các PPDH như diễn giảng, đàm thoại, thí nghiệm...theo kiểu nêu vấn đề đều có hiệu quả mang lại sự hứng thú cho HS chuẩn bị tiếp thu kiến thức mới, tăng cường năng lực hoạt động độc lập, sáng tạo của chủ thể nhận thức.
    2. Tình huống có vấn đề  
    2.1 Bản chất tình huống có vấn đề:
    Theo M.I Macmutôp tình huống có vấn đề là sự trở ngại về trí tuệ cuả con người, xuất hiện khi người đó chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện của quá trình thực tại.

    Như vậy, vấn đề là một câu hỏi cuả chủ thể nhận thức nảy sinh trong tình huống vốn hiểu biết cuả bản thân chưa đủ để giải thích, nhận thức các hiện tượng, sự vật khách quan.
    Trong tình huống vốn tri thức chung cuả nhân loại gặp trở ngại khi giải thích một thuộc tính nào đó cuả sự vật,hiện tượng khách quan nảy sinh trong tư duy cuả các nhà khoa học thì đó là các vấn đề khoa học.
    Ví dụ vấn đề: sự di truyền cuả các tính trạng như thế nào? Ðược đặt ra đối với ông MenÐen ở thế kỷ XIX là một vấn đề khoa học; vấn đề trong sinh học ngày nay: sinh sản vô tính ở động vật bật cao và người? Là một vấn đề khoa học.
    2.2.Tình huống có vấn đề trong quá trình dạy học:
    HS trong quá trình nhận thức vốn tri thức chung cuả nhân loại, đã vấp phải tình huống giưã vốn hiểu biết cuả bản thân với nội dung một khái niệm, qui luật mới nào đó thì sẽ xuất hiện vấn đề đó là vấn đề học tập.
    Vấn đề có tính chủ quan cuả chủ thể nhận thức, bao hàm nhu cầu hiểu biết đối tượng mới vượt qua khỏi giới hạn vốn tri thức đã có ở bản thân (mâu thuẫn chủ quan=MTCQ ). Như vậy, trong cùng một tình huống thì có thể nảy sinh vấn đề ở chủ thể nhận thức này mà không có vấn đề ở chủ thể khác.
    Ví dụ tình huống: sinh sản vô tính chỉ xảy ra ở thực vật và động vật bậc thấp, không xảy ra ở động vật bậc cao và người. Các nhà khoa học về công nghệ sinh học đã nảy sinh vấn đề khoa học: sinh sản vô tính nhân tạo có thể thực hiện được ở động vật bậc cao và người hay không? Trước tình huống trên thì các nhà toán học,văn học... không có nhu cầu giải quyết vấn đề đó, vì vậy chỉ là tình huống thông báo.
    Có thể hiểu bản chất tình huống có vấn đề như sau:
    
    Trong quá trình dạy học, GV tạo tình huống phải phù hợp với khả năng cuả HS, có tỷ lệ hợp lý giữa cái đã biết và cái chưa biết. Vấn đề học tập phải vừa sức cuả HS để các em có khả năng giải quyết vấn đề đó. Nếu vấn đề đặt ra cho HS quá dễ hoặc quá khó đều không mang lại hiệu quả.
    Ví dụ: Khi dạy cấu tạo 2 mạch đơn cuả phân tử ADN ,GV đưa ra tình huống: mối liên kết giữa các bazơnitric trên 2 mạch là A liên kết với T và G liên kết với X, từ đó rút ra một bazơnitric có kích thước lớn(A,G) liên kết với một bazơnitric có kích thước nhỏ( T,X).
    Nếu tình huống này đưa ra cho HS lớp 9 khi dạy về cấu trúc ADN thì đó là tình huống không làm xuất hiện vấn đề học tập ở HS, bởi vì những kiến thức của HS lớp 9 về hóa học, sinh học chưa đủ để tìm tòi vấn đề mới.
    Củng với tình huống trên đặt ra trước HS lớp 12 thì sẽ là tình huống có vấn đề. Một số HS có năng lực học tập sẽ hình thành câu hỏi có vấn đề: Tại sao loại bazơnitric có kích thước lớn A không liên kết với bazơnitric có kích thước nhỏ X và loại G không liên kết với loại T? Tình huống trên giáo viên đưa ra khi HS chưa biết bản chất liên kết hidrô giữa các bazơnitric thì bản thân các HS củng không xuất hiện câu hỏi có vấn đề.
    II.CẤU TRÚC DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
    
    1.Nêu vấn đề  
    1.1 Xây dựng tình huống có vấn đề
    Thông báo tình huống : GV đưa ra tình huống có thể là câu hỏi, bài toán, thí nghiệm, làm việc SGK, các hiện tượng sinh học trong tự nhiên... dưới hình thức kiểm tra bài cũ hoặc là GV thông báo.
    Tái hiện tri thức của HS có liên quan đến vấn đề mới
    GV bằng phương pháp đàm thoại yêu cầu HS trình bày lại những kiến thức đã học để làm cơ sở cho HS phát hiện vấn đề mới và đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề đó.
    Phát hiện mâu thuẫn ( MTKQ) giữa cái đã biết và cái chưa biết :
     
    1.2.Phát biểu vấn đề học tập:
    Vấn đề học tập thường được phát biểu dưới dạng câu hỏi, là kết quả của chủ thể biến mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.Hiệu qủa của bước này phụ thuộc vào khả năng phát hiện ra các mâu thuẫn khách quan ở đối tượng HS và thể hiện ở các mức độ: 
    1.3. Các ví dụ minh họa
    Ví dụ 1: Nêu vấn đề bằng công tác độc lập của HS đối với SGK, tài liệu tham khảo.
    -Thông báo tình huống: Bộ NST 2n ở một số loài như sau: Giun đũa 2n=4;Giun đất 2n=36; Ruồi giấm 2n=8; Ếch 2n=26; Bồ câu 2n=80; Gà 2n=78; Chó 2n=78; Mèo 2n=38; Lợn 2n=38; Người 2n=46.
    -Tái hiện tri thức: Mức độ tiến hóa của các loài trên theo mức độ từ thấp lên cao là: 
    Gen chỉ huy tổng hợp prôtêin hình thành các tính trạng và đặc tính của mỗi loài sinh vật.
    -Phát hiện mâu thuẫn(><)
    Số lượng NST nhiều hay ít ở mỗi loài >< trình độ tiến hóa của loài
    Ở người có số lượng gen hoạt động >< số lượng NST không nhiều
    nhiều nhất
    Hai loài khác nhau >< hai loài có số lượng NST bằng nhau
    -Phát biểu vấn đề: Số lượng NST có liên quan với trình độ tiến hóa của mỗi loài như thế nào?
    Ngoài số lượng NST còn có những đặc điểm nào về bộ NST được đặc trưng cho mỗi loài sinh vật?
    Ví dụ 2: Nêu vấn đề thông qua hiện tượng sinh học trong tự nhiên
    -Thông báo tình huống: Trên thế giới những lần đầu sử dụng DDT đã có hiệu lực rất mạnh trong việc diệt ruồi, muỗi, nhưng chỉ ít năm sau hiệu lực này giảm rất nhanh và xuất hiện các quần thể kháng DDTở các mức độ khác nhau
    Hiện nay có các loài vi khuẩn gây bệnh kháng lại các loại kháng sinh như PÊNIXILIN, STREPTÔMIXIN...
    - Tái hiện tri thức: ÐB gen thường là ÐB gen lặn và tồn tại trong quần thể ở trạng thái dị hợp. ÐB gen là nguồn nguyên liệu chính cho CLTN.
    
    Tương tác cộng gộp của 2 hay nhiều cặp gen, trong đó mỗi gen góp một phần như nhau vào sự biểu hiện tính trạng.
    Mỗi quần thể có vốn gen đặc trưng khác với quần thể khác trong cùng một loài.
    - Phát hiện mâu thuẫn :
    Sử dụng DDT : lúc đầu ruồi, muỗi >< về sau ruồi, muỗi
    sống sót ít sống sót càng nhiều
    Sử dụng kháng sinh : lúc đầu tiêu diệt >< về sau vi khuẩn
    được vi khuẩn kháng thuốc
    - Phát biểu vấn đề : Tại sao ở ruồi muỗi, vi khuẩn có sự tăng cường sức đề kháng đối với những loại hóa chất (DDT, kháng sinh ...) mà con người sử dụng để tiêu diệt chúng.
    *Ví dụ 3 : nêu vấn đề bằng bài toán nhận thức.
    Bài toán : cho lai gà mào hạt đào thuần chủng với gà mào hình lá thu được F1 đồng loạt mào hạt đào. Cho F1 tạp giao được gà F2. Xác định QLDT và viết SÐL từ P đến F2?.
    -Thông báo tình huống:
    
    GV thông báo : F2 thu được tỉ lệ :9 mào hạt đào : 3 mào hoa hồng : 3 mào hạt đậu : 1 mào hình lá.
    - Tái hiện tri thức : một tính trạng do một cặp gen qui định theo định luật phân li ở F2 có tỉ lệ 3:1 gồm 4 tổ hợp.
    Lai hai tính trạng do 2 cặp gen phân li độc lập qui định thì ở F2 có tỉ lệ kiểu hình 9A_B_ :3A_bb :3aaB_ :1aabb
    -Phát hiện mâu thuẫn :
    F2 tỉ lệ kiểu hình 3:1 > < F2 tỉ lệ kiểu hình 9:3:3:1
    Gồm 4 kiểu tổ hợp gồm 16 kiểu tổ hợp
    - Phát biểu vấn đề : Tại sao kết quả lai một tính trạng thu được tỉ lệ kiểu hình có 16 kiểu tổ hợp ?.
    Tình huống có vấn đề chỉ tạo được với những nội dung thích hợp và nó tồn tại ngay trong kết cấu logic của tài liệu SGK, vì vậy GV cần có kỹ thuật để truyền tải các tình huống đó đến với HS. Sự thành công cuả bước này là quan trọng nhất trong dạy học nêu vấn đề.
    2.Giải quyết vấn đề
    2.1Hình thành giả thuyết:
    - Ðể giải quyết vấn đề cần nêu ra một giả thuyết, đó chính là định hướng cho các hoạt động quan sát, thí nghiệm để chứng minh vấn đề mới.
    - Các giả thuyết đó chính là các ý tưởng có cơ sở khoa học, dựa vốn tri thức đã biết để hình thành các phán đoán, suy luận lý giải cho vấn đề mới .
    Ðối với HS, giả thuyết là kết quả quá trình tư duy sáng tạo khi nhận thức vấn đề mới và tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học đặc thù của bộ môn. Tính khoa học chính xác của giả thuyết phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể nhận thức, vì vậy trong cùng một vấn đề HS có thể đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau .
    - Hình thành một giả thuyết cần lưu ý:
    * Các giả thuyết phải được hình thành qua suy nghĩ, phát triển từ cái đã biết có liên quan đến vấn đề mới. Vì vậy nội dung các giả thuyết không được mâu thuẫn với tri thức đã có của chủ thể.
    * Các giả thuyết có thể hiện định hướng cho các hoạt động giải quyết vấn đề :
    Trong dạy học nêu vấn đề HS có thể đưa ra các giả thuyết khác nhau về cùng một vấn đề, GV cần lựa chọn và tập trung sự trao đổi thảo luận của HS vào một vài giả thuyết điển hình.
    - Khi hình thành giả
    No_avatar
    Cám ơn bạn Nga đã đưa tư liệu trên để mọi người cùng tham khảo
    No_avatar
    Tại sao tôi lại không tải được tài liệu này về vì khi giải nén toàn báo lỗi?
    No_avatar

    sao e ko tai bai nay ve dc.ky wa ha.

    hổng chịu đâu.tài liệu nào đẻ học đâyTuyệt

    có ai đó ko,cứu em với

    No_avatar
    troi oi sao mon pp nay dang ghet thiet.e chet mat thui
    No_avatar

    moi người có bài nào hay về tâm lý học thì gửi lên đọc nha!thank

     

    No_avatarf

    ai giup em tai tai lieu ve duoc ko

     

    150550

    Cảm ơn bạn

     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print