Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Báo cáo kết quả đánh giá chương trình SGK

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vương Huy Dưỡng
    Ngày gửi: 11h:29' 01-05-2008
    Dung lượng: 139.0 KB
    Số lượt tải: 1314
    Số lượt thích: 0 người
    Phòng GD & ĐT Quảng Xương
    Trường THCS Quảng Hoà


    Báo cáo
    kết quả đánh giá chương trình và sách giáo khoa

    A/ Một số thông tin về giáo dục cấp học của địa phương
    1. Đặc điểm địa lí, dân cư của địa phương:
    Quảng Hoà là một xã thuộc 9 xã miền đồng của Huyện Quảng Xương, nằm ở phía Tây Nam của Huyện Quảng xương cách quốc lộ 1A khoảng 2 km .
    Là một xã thuần nông , có trục đường liên xã chạy qua, có khu kinh tế chợ Nguyễn.
    Đời sống kinh tế của nhân dân đã từng bước đi lên, trình độ dân trí ngày càng phát triển. Những năm gần đây được UBND Huyện đánh giá rất cao là một trong những xã của Huyện có sự phát triển đồng đều trong các lỉnh vực kinh tế, văn hoá, đời sống xã hội.
    Là địa phương có con đường liên xã có nhiều ý nghĩa lịch sử trong những năm kháng chiến cũng như trong thời kỳ đổi mới phát triển kinh tế xã hội đẻ từng bước công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa .
    2. Tình hình nhà trường:
    * Tổng số học sinh : 406 em – Chia thành : 11 lớp.
    * Giáo viên:
    - Tổng số CBGV là: 28 đ/c. Trong đó: Ban giám hiệu là 2 đ/c, Tổ hành chính là 2 đ/c, Tổ KHXH là 11 đ/c, Tổ KHTN là 9 đ/c, Tổ đặc thù là 4 đ/c.
    - Số giáo viên đạt chuẩn: 24 . Tỉ lệ : 100%.
    * Về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học.
    - Số phòng học và bàn ghế đã đủ cho học 1 ca .
    - Tổng số phòng học kiên cố : 12 phòng.
    - Bàn ghế giáo viên và học sinh : đầy đủ.
    - Văn phòng : 1 ; Phòng Giám hiệu: 1 ; Nhà ở cho giáo viên : 0 ; Phòng Thiết bị- đồ dùng : 1 ; Phòng chức năng : 0 ; Phòng TNTH: 0 .
    - SGK- Tài liệu - Đồ dùng phục vụ Dạy- Học tương đối đầy đủ và đạt chất lượng theo yêu cầu của công tác dạy và học.
    * Về công tác quản lí, chỉ đạo và bồi dưỡng chuyên môn phục vụ đổi mới chương trình, SGK:
    - BGH nhà trường đã chỉ đạo nghiêm túc việc thực hiện các qui định về chuyên môn, về công tác thanh tra, kiểm tra.
    - Tổ chức chỉ đạo các tổ, nhóm sinh hoạt chuyên môn theo từng chủ đề như: tập trung tháo gỡ những điểm tắc và khó trong chương trình SGK mới để từ đó rút kinh nghiệm và thực hiện có hiệu quả các tiết dạy học trên lớp.
    - Chỉ đạo sâu sát, quan tâm tới công tác bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CBGV. Tổ chức tốt cac đợt thao giảng, đúc rút và làm sáng kiến kinh nghiệm.
    B/ Đánh giá chương trình, sách giáo khoa của từng môn học:
    Đánh giá chương trình:
    Môn Ngữ văn

    1/ Đánh giá chương trình môn Ngữ văn THCS:
    1.1 Về ưu điểm:
    - Nhìn chung chương trình bộ môn Ngữ văn có nội dung sát với thực tiễn Việt Nam, thể hiện được tính hiện đại và cập nhật.Với nội dung kiến thức phong phú và đa dạng phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh từ lớp 6 đến lớp 9. Với yêu cầu về kiến thức, kỉ năng, thái độ phù hợp với trình độ phát triển của học sinh .
    Chương trình bộ môn bộ môn Ngữ văn dã chú trọng tới sự cân đối giữa lý thuyết và bài tập thực hành đảm bảo chú trọng tới 4 kỉ năng: Nghe, nói, đọc, viết của học sinh, từ đó phát huy được kỹ năng chủ động, sáng tạo của bản thân .
    Nội dung chương trình da dạng các thể loại và được sắp xếp hợp lí theo kiểu đồng tâm , vòng tròn xoáy trôn ốc theo mức độ tăng dần, đi từ nhận thức lí tính đến việc phát triển năng lực tư duy cho học sinh.
    Mức độ quán triệt và sự thể hiện cụ thẻ trong chương trình đã thể hiện được định hướng đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay.
    1.2. Hạn chế:
    Bên cạnh những ưu điểm nói trên, chương trình bộ môn Ngữ văn còn có một số hạn chế như sau:
    - Đối với chương trình Ngữ văn lớp 6, phần văn học địa phương còn quá ít.
    - Chương trình Ngữ văn lớp 7 còn quá nặng đối với học sinh, đặc biệt là học sinh vùng nông thôn (Đối tượng HS trung bình và yếu còn nhiều). Đó là đưa văn học Trung đại, văn Nghị luận vào chương trình. ở văn học Trung đại, một số bài thơ Đường quá khó đối với trình độ nhận thức của học sinh. Một số tiết sắp chưa hợp lí.
    - Chương trình Ngữ văn lớp 8 có chỗ sắp xếp chưa hợp lí. Theo phân phối chương trình 17, tiết 65: học văn bản "Ông đồ" nhưng văn bản này lại in ở trang 8, SGK- Ngữ văn 8 - tập 2. Điều này không phù hợp ở chỗ: nếu để như vậy học sinh sẽ gặp phải những khó khăn trong việc sử dụng sách.
    - Chương trình Ngữ văn lớp 9: có một số nội dung phân phối thời lượng chưa hợp lí:
    + Tiết 112, 113, 114: Cách làm bài văn nghị luận về một số vấn đề tư tưởng, đạo lí (3 tiết) hơi nhiều, nên giảm tải xuống còn 2 tiết.
    + Tiết 125: "Cách làm bài văn Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ", nên tăng 2 tiết. Vì đậy là một vấn đề mới và khó. Đa số học sinh lớp 9 chưa nắm được cách làm bài văn Nghị luận về kiểu bài này.
    + Tiết 116 "Mùa xuân nho nhỏ", nên tăng lên 2 tiết. Vì đây là một bài thơ dài. Nếu để một tiết thì GV không đủ thời gian để tổ chức hướng dẫn cho học sinh chủ động khai thác và tiếp nhận kiến thức cơ bản và những cái hay, cái đẹp của một văn bản nghệ thuật có giá trị mà tác giả Thanh Hải muốn gửi gắm đến bạn đọc (Nhất là các em học sinh ở bậc học THCS).
    + Phần hướng dẫn đọc thêm bài "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ" của tác giả Nguyễn Khoa Điềm nên bố trí trong 1 tiết, không nên gộp vào văn bản "Bếp lửa" của Bằng Việt. Vì nếu gộp vào thì giáo viên không đủ thời gian để hướng dẫn đọc thêm cho học sinh.
    1.3. Những đề xuất để hoàn thiện chương trình:
    * Đối với lớp 6: Cần tăng thêm một số tiết cho phần chương trình địa ph]ơng. Đề nghị nên đưa văn bản "Bức thư của thủ lĩnh da đỏ" vào phần tự học có hướng dẫn hoặc phần đọc thêm để học sinh bước đầu tìm hiểu và làm quen với thể loại văn học này.
    * Đối với 7: Giảm một số bài thuộc văn học Trung đại:
    + Tiết 26 - Văn bản "Sau phút chia ly", tiết 37 - Văn bản: "Cảm nghĩ trong đêm thanh tỉnh".
    Tiết 31,32: Viết bài tập làm văn số 2, nên chuyển xuống sau tiết 36 và 40: Cách lập ý của bài văn biểu cảm và luyện nói. Văn biểu cảm về sự vật và con người.
    + Bài 12 - Tiết 50: Cách làm văn biểu cảm về tác phẩm văn học nên tăng thêm một tiết cho phù hợp với đối tượng học sinh trung bình.
    + Tiết 94: Chuyển đổi câu phủ định, nên có tài liệu cụ thể để tham khảo thêm.
    + Bài 26 - Tiết 101, nên tăng lên 2 tiết.
    * Đối với lớp 8: nên thay đổi dạy văn bản "Ông đồ" từ tiết 65 của tuần 17 sang tuần 19.
    * Đối với lớp 9: Cần phân phối lượng thời gian ở một số tiết cho hợp lí hơn (Đã nêu ở phần hạn chế của nội dung chương trình).
    Đề xuất: Sở GD & ĐT nên cung cấp một số tài liệu cho giáo viên tham khảo. Cung cấp thêm đồ dùng trực quan, ảnh chân dung ocủa một số tác giả nổi tiếng.
    2/ Đánh giá sách giáo khoa bộ môn Ngữ văn Cấp THCS:
    2.1. Ưu điểm:
    - SGK bộ môn Ngữ văn từ lớp 6,7,8,9 phù hợp với trình độ nhận thức và tâm sinh lí của các đối tường học sinh. Từ dó, các em thực sự yêu quí môn học và coi SGK như một người bạn thân không thể thiếu được. Bên cạnh đó, SGK Ngữ văn THCS còn đảm bảo tính khoa học, có sự tích hợp giữa ba phân môn: Văn - Tiếng Việt - Tập làm văn, giúp học sinh có thể lĩnh hội kiến thức một cách rõ ràng. SGK từ lớp 6,7,8,9 còn mang tính sư phạm rõ rệ, giúp các em biết yêu ghét rạch ròi, biết sống tốt hơn và biết hướng tới cái chân, thiện, mĩ.
    - SGK Ngữ văn THCS được trình bầy đep, trang nhã, khoa học, có sự kết hgợp pgiữa kênh chữ và kênh hình một cách hài hoà. Giá cả phải chăng phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân có mức thu nhập trung bình.
    - Tình hình sử dụng SGK hiện nay:
    + Thuận lợi: Hiện nay, trên thị trường SGK Ngữ văn Từ lớp 6 đến lớp 9 được bầy bán rộng rãi, dễ mua. Hầu hết giáo viên và học sinh đều có đầy đủ SGK.
    + Khó khăn: Một số học sinh còn chưa đủ SGK để sử dụng, dẫn đến các em còn gặp khó khăn trong việc học tập, lĩnh hội kiến thức.
    * Hạn chế: Phần chương trình Địa phương trong SGK Ngữ văn nói chung và SGK Ngữ văn 6 nói riêng chưa phong phú về nội dung.
    2.2. Những đánh giá chung khái quát về chương trình,
    sách giáo khoa:
    * Ưu điểm: Nhìn chung, chương trình SGK vơí nội dung phong phú, đa dạng, thể hiện tính hiện đại, cập nhật và sát với thực tiễn Việt nam, mang tính giáo dục cao.
    - Nội dung chương trình, sách giáo khoa được sắp xếp và phát triển hợp lí các mạch kiến thức. Đảm bảo sự cân đối giữa lí thuyết và thực hành để phát triển các kĩ năng cần thiết cho học sinh.
    - Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn đã góp phần hỗ trợ cho giáo viên và học sinh đổi phương pháp dạy và học theo quan điểm tích hờp và tích cực.
    - Nội dung củ chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn phù hợp với trình độ phát triển của học sinh, phù hợp với trình độ của giáo viên, với điều kiện về CSVC của nhà trường và thừi lượng dạy và học.
    - Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn đã trở thành một người bạn đối với mỗi học sinh.
    * Hạn chế: Phần chương trình Địa phương còn sơ sài.
    * Những kết quả đạt được khi dạy chương trình SGK Ngữ văn mới:
    - Đa số các em có hứng thú học văn và ưu thích môn học. Tuy nhiên, một số học sinh yếu kém thì việc tiếp thu một số văn bản trong chương trình, SGK
     
    Gửi ý kiến
    print

    Nhấn Esc để đóng