Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Sáng kiến kinh nghiệm lịch sử THCS 2008 (TP Hải Phòng)


    Nguồn:
    Người gửi: Bùi Đình Đông - Đăng Dương
    Ngày gửi: 22h:49' 23-04-2008
    Dung lượng: 68.5 KB
    Số lượt tải: 1792
    Số lượt thích: 0 người



    Bộ môn lịch sử ở nhà trường phổ thông Việt nam
    Về lí luận và thực tiễn, bộ môn lịch sử đã được thừa nhận có vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Nội dung và phương pháp dạy học mang tính chất thời đại và giai cấp rõ rệt. Việc nhận thức vị trí, chương trình, SGK lịch sử…ở nước ta sau cách mạng tháng tám ( 1945), nhất là từ sau triển khai cải cách giáo dục(1981) là việc cần thiết.
    I. Vài nét về việc dạy học lịch sử ở Việt Nam trước năm 1945.
    Dân tộc Việt Nam có lịch sử lâu đời. Từ xưa, nhân dân ta đã coi trọng việc lấy lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ. Trong các câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại, ca dao có nhiều yếu tố của tri thức lịch sử, phản ánh nhiều sự kiện lớn của công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Lịch sử của dòng họ, địa phương( xã, huyện, tỉnh, miền) ra đời từ khá lâu, có tác dụng không nhỏ vào việc giáo dục truyền thống, lòng tự hào và trách nhiệm đối với quê hương, Tổ Quốc.
    Từ sau khi nước nhà thoát khỏi sự đô hộ của phong kiến phương Bắc ( Thề kỉ thứ X). Nền giáo dục dân tộc hình thành và phát triển. Lịch sử giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy học, thi cử để tuyển chọn nhân tài. Tuy có những hạn chế về thời đại và giai cấp, việc dạy học lịch sử thời phong kiến dân tộc có nhiều khởi sắc. Nhằm vào mục tiêu “ Dạy chữ để dạy người” việc học tập lịch sử để “ Ôn cố nhi tri tân” (Nhắc cái cũ để biết cái mới) có tác dụng trọng việc đào tạo thế hệ trẻ thành những thanh niên yêu nước>Nhiều tác phẩm sử học được biên soạn như Đại Việt Sử kí của LêVăn Hưu ( thế kỉ XIII), Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên ( Thế kỉ XV), các tác phẩm của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn là công trình nghiên cứu lịch sử dân tộc có giá trị, được sử dụng để làm tài liệu học tập. Loại SGK lịch sử chẳng có bao nhiêu, như Quốc sử tiểu học của Phạm Đình Hổ ( thế kỉ XIX) hoặc Việt sử tân ước toàn biên của Hoàng Đạo Thành( Cử nhân năm 1881). Về phương pháp học tập, tuy không thoát khỏi cách học kinh viện, khoa cử, song cũng có nhiều kinh nghiệm hay trong trình bày, giảng giải lịch sử, liên hệ tri thức về quá khứ với hiện tại .
    Thực dân Pháp xâm chiếm và thống trị nước ta, cũng hình thành một nền giáo dục ngu dân, phục vụ chế độ thuộc địa của chúng. Lịch sử chỉ được dạy ở cấp tiểu học với quan niệm phản động, xuyên tạc quá khứ trong việc mạt sát các cuộc đấu tranh của quần chúng, chông áp bức bóc lột, ca tụng giai cấp thông trị, biện hộ cho những hành động xâm lược, đô hộ của thực dân. ở bậc cao đẳng tiểu học(tương đương với các lớp cấp II hiện nay) học sinh không được học lịch sử dân tộc, mà chỉ học lịch sử Pháp, xem như quốc sử.
    Trong phong trào giải phóng dân tộc, lịch sử được xem như một công cụ đấu tranh, một vũ khí sắc bén trong tay các nhà yêu nước Việt nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, mà Phan Bội Châu là tiêu biểu. Với nhiều tác phẩm lịch sử, cụ Phan đã khơi dậy lòng yêu nước, ý chí đấu tranh chông xâm lược. Đông Kinh Nghĩa Thục cũng chú trọng đến việc phổ biến, giảng dạy lịch sử dân tộc để thức tỉnh đồng bào, song phải đến Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, sử học Việt nam nói chung và việc dạy học lịch sử nói riêng mới có sự chuyển biến lớn.
    Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào Việt nam, Nguyễn ái Quốc đã vận dụng những quan điểm, nguyên lý của duy vật lịch sử để nghiên cứu nhiều vấn đề của lịch sử dân tộc và thế giới, nhằm tố cáo chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh nhân dân, xác định con đường cứu nước đúng. Các bài viết, tác phẩm như : bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh, Lịch sử nước ta có nhiều nội dụng lịch sử giá trị, và là những công trình sử học Mác Xít đầu tiên ở nước ta. Hơn nữa Nguyễn ái Quốc đã thực sự giảng dạy như một giáo viên lịch sử ở các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng tại Quảng Châu( Trung Quốc) những năm 1925 – 1927, ở trường đại học phương đông cho các học viên việt nam, ở các lớp học của một số cán bộ ở Pắc bó. Những bài viết và sách của người đã đi vào cuộc sống của nhân dân ta lúc bấy giờ như những tài liệu giáo khoa lịch sử. Người cũng để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý về phương pháp giảng dạy, như xác định kiến thức cơ bản, cách trình bày sinh động, cụ thể, có hình ảnh, việc liên hệ đối chiếu tài liệu lịch sử quá khứ với hiện taị để rút kinh nghiệm, bài học…
    Có thể nói rằng, nhân ta coi trọng và có kinh nghiệm trong việc dạy học lịch sử, để lại cho chúng ta nhiều bài học quý cần nghiên cứu, khai thác và vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện ngày nay. Việc nghiên cứu có hệ thống, toàn diện, sâu sắc về dạy học lịch sử ở Việt Nam là yêu cầu quan trong được đặt ra, nhằm rút ra nhiều bài học quý cho công cuộc cải cách giáo dục bộ môn hiện nay.
    II.Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông Việt Nam 1945 –1975.
    Cũng như các môn học khác, việc dạy học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông từ cách mạng tháng tám 1945 đến nay trải qua nhiều giai đoạn phát triển.
    (. Năm học đầu tiên sau cách mạng, Đại hội giáo giới toàn quốc tháng tám 1946 đã khẳng định ba nguyên tắc xây dựng giáo dục mới của Việt nam là: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Tuy nhiên trong hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn các trường vẫn phải tạm thời áp dụng chương trình cũ ( tức là “ chương trình Hoàng Xuân Hãn” ban hành dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim chứ chưa có thay đổi đáng kể ).
    Ngày 19 tháng 12 năm1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Đất nước chia thành hai vùng khác nhau với hai nền giáo dục khác nhau. ở vùng tự do, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến ngành giáo dục cách mạng non trẻ gặp rất nhiều khó khăn. Thầy trò phải tản cư về nông thôn. Giáo viên vừa thiếu vừa chịu phần nào ảnh hưởng của tư tưởng “ giáo dục trung lập”. Do vậy về cơ bản các môn học trong đó có môn lịch sử vẫn thực hiện theo chương trình cũ, chỉ sửa đổi một chút. Chẳng hạn bớt phần lịch sử thế giới để tăng phần lịch sử cách mạng Việt Nam.
    Năm 1950 cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất được tiến hành, xác lập hệ thống giáo dục phổ thông duy nhất: 9 năm( cấp I: 4 năm, cấp II: 3năm, cấp III: 2 năm) xây dựng nhà trường dân chủ nhân dân thiết thực phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến. Chương trình lịch sử được xây dựng và áp dụng từ năm học 1950 –1951. Tính đến năm 1954, chương trình đã được sửa đổi 2 lần ( 1951 –1953) theo hướng giảm nhẹ khối lượng kiến thức cho phù hợp với thời gian học trong kháng chiến và tăng nội dung chống phong kiến, làm nổi bật vai trò của nông dân trong lịch sử nhằm thiết thực phục vụ thời kì phát động giảm tô giảm tức. Nhìn chung chương trình lịch sử trong kháng chiến đã có những thay đổi căn bản so với chương trình trước đó. Lịch sử được trình bày và giải thích trên quan điểm duy vật lịch sử, bỏ lối dạy theo triều đại với những chi tiết về các vua chúa. Nội dụng lịch sử được lựa chọn theo quan niệm lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp, quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo ra lịch sử. Do thời gian học tập eo hẹp, điều kiện học tập khó khăn nên kiến thức được tinh giản đến mức tối đa và hết sức thiết thực.
    Tuy nhiên chương trình môn lịch sử trong giai đoạn này vẫn còn bộc lộ những hạn chế đáng kể. Thời gian hạn hẹp nên chương trình chưa đảm bảo được tính khoa học. Trong hai năm ở cấp III, số tiết 1,5 trên một tuần, học sinh phải học toàn bộ lịch sử thế giới từ cổ đại đén hiện đại. Cấu trúc của chương trình cũng chưa hợp lí ( ở cấp II học sinh được học toàn lịch sử dân tộc mà không được biết chút nào về lịch sử thế giới; ngược lại hai năm ở cấp III học sinh chỉ được học lịch sử thế giới mà không được nâng cao kiến thức về lịch sử dân tộc).
    Cho tới nay, chung ta không có số liệu phản ánh chất lượng học tập môn lịch sử trong giai đoạn này. Song theo đánh giá chung của Bộ giáo dục chất lượng dạy học còn thấp. Sự đánh giá đó không chỉ căn cứ ở mặt hạn chế của chương trình mà còn ở các điều kiện dạy học khác. Về SGK tuy bộ giáo dục đã tổ chức hai trại tu thư, song do tình hình chiến sự và thiếu điều kiện ấn loát nên hầu như không xuất bản được cuốn sách giáo khoa nào. Nhiều địa phương cũng tổ chức viết SGK nhưng kết quả chỉ in được một hai cuốn với số bản rất hạn chế. Giáo viên dạy môn sử phần lớn không được đào tạo và bồi dưỡng đầy đủ nhiều người từ các bộ môn khác kiêm nhiệm công việc này. Điều kiện trường sở nghèo nàn, nhiều trường phải học vào ban đêm, thời gian dạy học rất thất thường.
    Tóm lại: Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài với biết bao khó khăn của nhà trường cũng như điều kiện sinh hoạt và học tập của học sinh mà tiếp tục duy trì được việc dạy học bô môn theo chương trình mới là một cố gắng rất lớn, đáng tự hào của thế hệ đi trước.
    Cũng trong giai đoạn này, ở vùng t
    No_avatar
    Thanks
    No_avatar
    chép hết ở trong sách mà la là skkn hử
     
     
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print