Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Sang kien kinh nghiem bai tap di truyen

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Xuân Khoa (trang riêng)
    Ngày gửi: 06h:22' 02-04-2008
    Dung lượng: 164.5 KB
    Số lượt tải: 1419
    Số lượt thích: 0 người





    Mục lục

    TT
    Mục
    Trang
    
    1
    Mở đầu
    2
    
    2
    Nội dung
    3
    
    3
    Phương pháp giải bài tập lai hai tính, liên kết hoàn toàn trong đó có một tính trạng di truyền kiểu tương tác gen

    3
    
    4
    Một số ví dụ
    7
    
    5
    Một số kết quả thu được
    12
    
    6
    Những kinh nghiệm được rút ra
    12
    
    7
    Thay cho lời kết
    13
    
    8
    Danh mục tài liệu tham khảo
    14
    
    




    Mở đầu
    Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của dạy học sinh học là phát triển tư duy sáng tạo và khả năng phân tích của học sinh, và vì thế việc dạy các bài tập có một vai trò rất lớn trong quá trình hình thành cho học sinh những phẩm chất đó. Để giải quyết tốt các bài tập sinh học ngoài kiến thức về các quy luật di truyền đã được học trong chương trình giáo khoa, học sinh cần phải có khả năng phân tích, nhận dạng từ đó xác định các bước giải đúng đắn đối với mỗi dạng bài tập. Đã có nhiều tài liệu giáo khoa và sách tham khảo đề ra một số phương pháp và quy trình giải toán phần quy luật di truyền. Nhóm tác giả đầu tiên cần phải kể tới là Đặng Hữu Lanh (chủ biên), Lê Đình Trung, Bùi Văn Sâm với cuốn Bài tập Sinh học 11, trong tài liệu này các tác giả có phân chia các bài tập lai thành hai dạng cơ bản là dạng bài toán thuận và dạng nghịch, trong mỗi dạng các tác giả đã đề ra quy trình 2 bước giải tổng quát đối với mỗi dạng. Ngoài ra tác giả Lê Đình Trung (Đại học Sư phạm I Hà Nội) còn có rất nhiều tài liệu tham khảo về bài tập di truyền dạng lai. Trong tài liệu của mình, tác giả Lê Đình Trung đã nêu quy trình 4 bước để giải bài tập phần quy luật di truyền trong trường hợp xét nhiều tính trạng đó là các bước: xác định số tính trạng được xét, xác định quy luật di truyền chi phối mỗi tính trạng, xác định kiểu gen chung và viết sơ đồ lai. Tuy nhiên, trong bước xác định kiểu gen chung và viết sơ đồ lai tác giả không đề ra phương pháp cụ thể để xác định kiểu gen, những chỉ dẫn còn hết sức tổng quát và sơ lược. Tác giả Trần Đức Lợi (TH Chuyên Lê Hồng Phong) cũng có nhiều tài liệu tham khảo dành cho phần bài tập các quy luật di truyền và biến dị. Trong các tài liệu của mình, đối với phần bài tập quy luật di truyền, tác giả đã đưa ra phương pháp giải bài tập lai hai tính trạng liên kết gen hoàn toàn trong đó có 1 tính trạng di truyền theo quy luật tương tác gen nhưng cũng không nêu phương pháp xác định kiểu gen chung của các thế hệ. Ngoài ra cần phải kể đến các tác giả khác như Nguyễn Minh Công (Đại học Quốc Gia), Bùi Đình Hội (Bộ Giáo dục), Trần Hồng Hải, Vũ Đức Lưu, Lê Thị Thảo, Phan Kỳ Nam, Nguyễn Văn Thanh vv… đã nêu một số cách giải và phân dạng các bài toán lai nhưng các tác giả này cũng không đưa ra phương pháp giải chi tiết, đặc biệt là phương pháp xác định kiểu gen chung trong bài tập lai hai tính trạng, liên kết hoàn toàn trong đó có 1 tính trạng di truyền theo kiểu tương tác gen.
    Nhìn chung các tác giả mới đưa ra những phác đồ tổng quát cho việc giải quyết các bài tập mà chưa đi sâu vào việc thiết kế các bước giải cho các chuyên đề hẹp trong việc giải quyết các bài tập sinh học đặc biệt là các bài tập nâng cao. Tuy nhiên, các tài liệu trên đã tỏ ra rất có ích cho học sinh giúp các em định hướng và giải quyết đúng đắn các bài tập sinh học.
    Phần bài tập lai hai tính trạng, liên kết hoàn toàn trong đó có 1 tính trạng di truyền tuân theo quy luật tương tác gen có một tỉ trọng tương đối lớn trong đề thi vào các trường Đại học và Cao đẳng hàng năm, ngay trong cuốn Đề thi Tuyển sinh môn Sinh học do Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 1994 số lượng bài liên quan tới dạng này cũng đã chiếm tới 18 trên tổng số 90 bài tập lai (20%). Trong cuốn Bài tập Sinh học 11, ở phần bài tập tổng hợp, số bài dạng này có 5 trong tổng số 15 bài (1/3). Trong các đề thi đại học hàng năm kể từ năm 1994 tới năm 2002 lượng các bài tập thuộc dạng trên cũng chiếm một tỉ lệ khá lớn. Chính vì lý do trên, trong quá trình dạy học tôi đã tìm cách nêu ra phác đồ các bước giải chi tiết cho phần bài tập di truyền nâng cao dạng lai hai tính có liên kết gen và có 1 tính trạng di truyền theo kiểu tương tác gen, trong đó chủ yếu là việc hướng dẫn cho học sinh phương pháp xác định kiểu gen chung và cách xác định nhanh tỉ lệ phân li kiểu gen ở đời con F2 thuộc mẫu:
    + Bài toán nghịch.
    + F1 dị hợp 3 cặp gen, tự thụ phấn hoặc giao phấn.
    + Xác định sơ đồ lai từ P ( F2 (hoặc từ F1 ( F2).
    Đây là mẫu cơ bản trong dạng này và từ mẫu này với phương pháp tương tự học sinh có thể tự giải quyết được các biến dạng khác của mẫu.

    Nội dung

    1. Phương pháp giải bài tập lai hai tính, liên kết hoàn toàn trong đó có một tính trạng di truyền kiểu tương tác gen
    Để giải quyết tốt phần bài tập này giáo viên cần chuẩn bị cho học sinh các kỹ năng sau:
    + Nhận biết có hiện tượng tương tác gen.
    + Nhận biết có hiện tượng liên kết gen.
    Sau đây là các bước được thiết kế để giải bài tập tổng hợp lai hai tính trạng, liên kết gen trong đó có 1 tính trạng tuân theo quy luật tương tác gen:
    Bước 1: Xét riêng từng cặp tính trạng:
    ở bước này học sinh cần phải xác định được đâu là tính trạng di truyền đơn gen, đâu là tính trạng di truyền kiểu tương tác gen. Đối với tính trạng di truyền theo quy luật tương tác cần phải xác định được kiểu tương tác (bổ trợ hay át chế), các nhóm gen tương ứng đối với mỗi loại kiểu hình. Để cho học sinh xác định tốt phần này giáo viên cần phải hoàn tốt các nhiệm vụ được đặt ra trong bài Tác động qua lại giữa các gen trong đó cần cung cấp cho học sinh các dạng tương tác chính:
    - Tương tác bổ trợ: 9:6:1, 9:3:3:1, 9:7.
    - Tương tác át chế: 12:3:1, 13:3.
    Kiểu tương tác cộng gộp và tương tác bổ trợ có át chế lặn tỉ lệ 9 :4:3 ít gặp trong các bài toán dạng này.
    Ngoài ra học sinh cần phải xác định được kiểu gen riêng cho từng tính trạng.
    Để tiện cho việc trình bày tôi quy ước các nhóm gen quy định tính trạng tuân theo quy luật tương tác gen là các ký hiệu: A-B-, aaB-, A-bb, aabb.
    Các gen quy định tính trạng tuân theo quy luật đơn gen (1 gen quy định 1 tính trạng) là các ký hiệu: D, d.
    Bước 2: Nhận định quy luật di truyền chung.
    ở bước này học sinh cần phải xác định 2 tính trạng di truyền tuân theo quy luật phân li độc lập (mỗi cặp gen nằm trên một cặp nhiễm sắc thể tương đồng) hay tuân theo quy luật liên kết gen. Tới bước này nhìn chung các tài liệu tham khảo hiện có đã thiết kế khá tốt vì vậy học sinh dễ dàng nhận dạng được quy luật di truyền chung chi phối cả 2 tính trạng. Để xác định có hiện tượng liên kết gen, học sinh có thể dựa vào số tổ hợp kiểu hình ở đời con, số loại giao tử của bố mẹ thông qua so sánh với số cặp gen dị hợp và khả năng hình thành giao tử và hợp tử của các cặp gen đó trong trường hợp phân li độc lập (bé hơn).
    Bước tiếp theo là xác định kiểu gen chung:
    Đây là bước giải tương đối khó và cũng là bước dễ mắc sai lầm, lúng túng, mất thời gian. Một số tác giả đã có những cố gắng giúp học sinh giải quyết khó khăn kể trên như tác giả Nguyễn Văn Thanh đã đưa ra 1 bảng tổng hợp liệt kê 5 kiểu tương tác có 33 phép lai ứng vơí 16 tỉ lệ khác nhau, theo bảng tổng kết này học sinh cần phải nhớ 2640 trường hợp khác nhau. Đây quả là một việc hết sức khó đối với học sinh.
    Tác giả Lê Đình Trung (Ôn tập Sinh học, trang 278) cũng đã đưa ra những gợi ý về cách xác định kiểu gen nhưng chưa đề ra các bước cụ thể để xác định kiểu gen. Ngoài 2 tác giả kể trên thì không có tác giả nào hiện biết đề cập tới cách xác định kiểu gen. Vì vậy để xác định kiểu gen chung, tôi đề xuất các bước như sau:
    + Dạng có một kiểu hình chỉ tương ứng với một nhóm gen duy nhất như các dạng tương tác 9:6:1, 9:3:3:1; 12:3:1 có một kiểu hình duy nhất tương ứng với một nhóm gen duy nhất (aabb).
    Đối với dạng này kiểu gen chung được xác định như sau:
    - Xác định xem trong các kiểu hình đã cho (F2) có xuất hiện kiểu hình tương ứng với tổ hợp gen aabb, dd hay không. Nếu xuất hiện thì thế hệ bố mẹ (F1) sẽ có kiểu liên kết thường, nếu không xuất hiện thì thế hệ bố mẹ (F1) sẽ có kiểu liên kết đối. Đối với trường hợp tương tác kiểu 9:6:1 sau khi xác định xong kiểu liên kết và kiểu gen học sinh bước sang bước 3 viết sơ đồ lai. Đối với dạng tương tác bổ trợ tỉ lệ 9:3:3:1 cần lựa chọn nhóm liên kết phù hợp thông qua việc xem xét sự có mặt hay không của kiểu hình tương ứng với tổ hợp gen (aaB-,D- hoặc A-bb,D-). Trong trường hợp tương tác kiểu át chế 12:3:1, học sinh cần phải xác định nhóm gen liên kết dựa vào tỉ lệ phân li kiểu hình xét chung cả 2 tính trạng ở F2, nếu số tổ hợp là 16, F1 tự thụ phấn hoặc giao phấn và dị hợp cả 3 cặp gen, quy ước A át B thì ta dễ dàng nhận thấy:
    * Nếu cặp Aa liên kết với cặp Dd sẽ xuất hiện 2 khả năng:
    ** A nằm trên cùng NST với D thì kiểu hình do gen át quy định + kiểu hình trội sẽ chiếm tỉ lệ 12/16 vì trong phép lai Dd x Dd ( 3D-:1dd.
    ** A nằm trên cùng một nhiễm sắc thể với d thì kiểu hình do gen át quy đi
    No_avatar
    hay qua
    No_avatar
    công phu
    No_avatar

    binh thuong

    No_avatar
    tôi thấy bài này của Thầy NGuyễn Đình Hoàng mà, sao lại copy vậy nhỉ/
     
    Gửi ý kiến
    print

    Nhấn Esc để đóng