Thư mục

Dành cho Quảng cáo

  • ViOLET trên Facebook
  • Học thế nào
  • Sách điện tử Classbook
  • Xa lộ tin tức

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Giáo án điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Sáng kiến kinh nghiệm: Giải bài toán quang hình học lớp 9

    Nguồn:
    Người gửi: Lương Văn Thành (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:13' 20-03-2008
    Dung lượng: 229.0 KB
    Số lượt tải: 1859
    Số lượt thích: 0 người

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
    Đề tài : PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TOÁN QUANG HÌNH HỌC LỚP 9 .

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶT VẤN ĐỀ
    Môn vật lý là một trong những môn học lý thú, hấp dẫn trong nhà trường phổ thông, đồng thời nó cũng được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn đời sống hàng ngày của mỗi con người chúng ta. Hơn nữa môn học này càng ngày lại càng càng yêu cầu cao hơn để đáp ứng kịp với công cuộc CNH- HĐH đất nước , nhằm từng bước đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra " Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", góp phần xây dựng Tổ Quốc ngày một giàu đẹp hơn.
    -Hơn nữa đội ngũ học sinh là một lực lượng lao động dự bị nòng cốt và thật hùng hậu về khoa học kỹ thuật, trong đó kiến thức, kỹ năng vật lý đóng góp một phần không nhỏ trong lĩnh vực này. Kiến thức, kỹ năng vật lý cũng được vận dụng và đi sâu vào cuộc sống con người góp phần tạo ra của cải, vật chất cho xã hội ngày một hiện đại hơn.
    Ta đã biết ở giai đoạn 1 ( lớp 6 và lớp 7 ) vì khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, vốn kiến thức toán học chưa nhiều nên SGK chỉ đề cập đến những khái niệm, những hiện tượng vật lý quen thuộc thường gặp hàng ngày. Ở giai đoạn 2 ( lớp 8 và lớp 9 ) khả năng tư duy của các em đã phát triển, đã có một số hiểu biết ban đầu về khái niệm cũng như hiện tượng vật lý hằng ngày. Do đó việc học tập môn vật lý ở lớp 9 đòi hỏi cao hơn nhất là một số bài toán về điện, quang ở lớp 9 mà các em HS được học vào năm thứ ba kể từ khi thay sách GK lớp 9 .
    Thực tế qua ba năm dạy chương trình thay sách lớp 9 bản thân nhận thấy: Các bài toán quang hình học lớp 9 mặc dù chiếm một phần nhỏ trong chương trình Vật lý 9, nhưng đây là loại toán các em hay lúng túng, nếu các em được hướng dẫn một số điểm cơ bản thì những loại toán này không phải là khó.
    Từ những lý do trên, để giúp HS lớp 9 có một định hướng về phương pháp giải bài toán quang hình học lớp 9, nên chúng tôi đã chọn đề tài này để viết sáng kiến kinh nghiệm.
    Sau một thời gian ngắn tìm hiểu, kiểm nghiệm, chúng tôi đã nhận thấy được thực trạng và một số nguyên nhân sau:
    II- SỐ LIỆU VÀ THỰC TRẠNG:
    1. Kết quả khảo sát đầu tháng 3: ( khảo sát toán quang hình học lớp 9 )
    Lớp

    Sĩ số

    điểm trên 5
    điểm 9 - 10
    điểm 1 - 2
    
    
    
    SL
    Tỷ lệ
    SL
    Tỷ lệ
    SL
    Tỷ lệ
    
    91
    38
    20
    53%
    2
    5,3%
    1
    2,6%
    
    92
    37
    16
    43%
    1
    2,7%
    5
    13,5%
    
    93
    39
    15
    38%
    0
    0%
    4
    10%
    
    94
    39
    19
    49%
    2
    5,1%
    4
    10%
    
    95
    39
    19
    49%
    3
    7,8%
    3
    7,7%
    
    96
    37
    22
    59%
    4
    11%
    3
    8%
    
    Kh ối 9
    229
    111
    48%
    12
    5,2%
    20
    8,7%
    
    
    2. Nguyên nhân chính:
    a) Do tư duy của học sinh còn hạn chế nên khả năng tiếp thu bài còn chậm, lúng túng từ đó không nắm chắc các kiến thức, kĩ năng cơ bản, định lý, các hệ quả do đó khó mà vẽ hình và hoàn thiện được một bài toán quang hình học lớp 9.
    b) Đa số các em chưa có định hướng chung về phương pháp học lý thuyết, chưa biến đổi được một số công thức, hay phương pháp giải một bài toán vật lý.
    c) Kiến thức toán hình học còn hạn chế (tam giác đồng dạng) nên không thể giải toán được.
    d) Do phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu nên các tiết dạy chất lượng chưa cao, dẫn đến học sinh tiếp thu các định luật, hệ quả còn hời hợt
    3. Một số nhược điểm của HS trong quá trình giải toán quang hình lớp 9:
    a) Đọc đề hấp tấp, qua loa, khả năng phân tích đề, tổng hợp đề còn yếu, lượng thông tin cần thiết để giẩi toán còn hạn chế.
    b)Vẽ hình còn lúng túng. Một số vẽ sai hoặc không vẽ được ảnh của vật qua thấu kính, qua mắt, qua máy ảnh do đó không thể giải được bài toán.
    c) Môt. số chưa nắm được kí hiệu các loại kính, các đặt điểm của tiêu điểm, các đường truyền của tia sáng dặt biệt, chưa phân biệt được ảnh thật hay ảnh ảo. Một số khác không biết biến đổi công thức toán .
    d) Chưa có thói quen định hướng cách giải một cách khoa học trước những bài toán quang hình học lớp 9.

    III- NHỮNG GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT:
    Những bài toán quang hình học lớp 9 được gói gọn ở chương III từ tiết 40 đến tiết 51. Mặc dù các em đã học phần quang ở năm lớp 7, nhưng chỉ là những khái niệm cơ bản, cho nên những bài toán loại này vẫn còn mới lạ đối với HS, mặc dù không quá phức tạp đối với HS lớp 9 nhưng vẫn tập dần cho HS có kỹ năng định hướng bài giải một cách có hệ thống, có khoa học, dễ dàng thích ứng với các bài toán quang hình học đa dạng hơn ở các lớp cấp trên sau này .
    Để khắc phục những nhược điểm đã nêu ở trên, tôi đã đưa ra một số giải pháp cần thiết cho HS bứơc đầu có một phương pháp cơ bản để giải loại bài toán quang hình lớp 9 dược tốt hơn:
    1. Giáo viên cho HS đọc kỹ đề từ 3 đến 5 lần cho đến khi hiểu. Sau đó hướng dẫn HS phân tích đề:
    Hỏi: * Bài toán cho biết gì?
    * Cần tìm gì? Yêu cầu gì?
    * Vẽ hình như thế nào? Ghi tóm tắt.
    * Vài học sinh đọc lại đề ( dựa vào tóm tắt để đọc ).
    Ví dụ 1: Một người dùng một kính lúp có số bội giác 2,5X để quan sát một vật nhỏ AB được đặt vuông góc với trục chính của kính và cách kính 8cm.
    a)Tính tiêu cự của kính? Vật phải đặt trong khoảng nào trước kính?
    b)Dựng ảnh của vật AB qua kính (không cần đúng tỉ lệ), ảnh là ảnh thật hay ảo?
    c) Ảnh lớn hay nhỏ hơn vật bao nhiêu lần?
    Giáo viên cho học sinh đọc vài lần. Hỏi:
    * Bài toán cho biết gì?
    -Kính gì? Kính lúp là loại thấu kínhgì?Số bội giác G?
    -Vật AB được đặt như thế nào với trục chính của thấu kính?Cách kính bao nhiêu?
    -Vật AB dược đặt ở vị trí nào so với tiêu cự?
    * Bài toán cần tìm gì? Yêu cầu gì?
    -Tìm tiêu cự? Để tính tiêu cự của kính lúp cần sử dụng công thức nào?
    -Để nhìn rõ ảnh qua kính lúp vật phải đặt trong khoảng nào trước kính?
    -Dựng ảnh của vật AB qua kính ta phải sử dụng các tia sáng đặt biệt nào?
    -Xác định ảnh thật hay ảo?
    -So sánh ảnh và vật?
    * Một HS lên bảng ghi tóm tắt sau đó vẽ hình . (cả lớp cùng làm )
    Cho biết
    Kính lúp
    G = 2,5X
    OA = 8cm
    a) G = ?Vật đặt khoảng nào?
    b) Dựng ảnh của AB. Ảnh gì?
    c) 
    * Cho2 học sinh dựa vào tóm tắt đọc lại đề. ( có như vậy HS mới hiểu sâu đề ).
    *Để giải đúng bài toán cần chú ý cho HS đổi về cùng một đơn vị hoặc đơn vị của số bội giác phải được tính bằng cm.
    2 .a) Để học sinh dựng ảnh, hoặc xác định vị trí của vật chính xác qua kính,mắt hay máy ảnh GV phải luôn kiểm tra, khắc sâu HS:
    *Các sơ đồ ký hiệu quen thuộc như:


    -Thấu kính hội tụ, thấu kính phân kì: ;



    -Vật đặt vuông góc với trục chính: hoặc


    -Trục chính, tiêu điểm F và F`, quang tâm O:


    -Phim ở máy ảnh hoăc màng lưới ở mắt:



    -Ảnh thật: hoặc ; -Ảnh ảo: hoặc

    * Các Định luật, qui tắc. qui ước, hệ quả như:
    - Định luật truyền thẳng của ánh sáng, định luật phản xạ ánh sáng, định luật khúc xạ ánh sáng
    -Đường thẳng nối tâm mặt cầu gọi là trục chính.
    -O gọi là quang tâm của thấu kính
    -F và F` đối xứng nhau qua O, gọi là các tiêu điểm.
    -Đường truyền các tia sáng đặt biệt như:
    Thấu kính hội tụ:
    +Tia tới song song với trục chính cho tia ló đi qua tiêu điểm F.
    +Tia tới đi qua tiêu điểm F, cho tia ló song song với trục chính.
    +Tia tới đi qua quang tâm O, truyền thẳng.
    +Tia tới bất kỳ cho tia ló đi qua tiêu điểm phụ ứng với trục phụ song song với tia tới.


    



    Thấu kính phân kì:
    +Tia tới song song với trục chính,cho tia ló kéo dài đi qua tiêu điểm F`.
    +Tia tới đi qua tiêu điểm F, cho tia ló song song với trục chính.
    +Tia tới đi qua quang tâm O, truyền thẳng.
    +Tia tới bất kỳ, cho tia ló có đường kéo dài đi qua tiêu điểm phụ, ứng với trục phụ song song với tia tới.








    -Máy ảnh:
    +Vật kính máy ảnh là một thấu kính hội tụ.
    +Ảnh của vật phải ở ngay vị trí của phim cho nên muốn vẽ ảnh phải xác định vị trí đặt phim.





    -Mắt, mắt cận và mắt lão:
    +Thể thuỷ tinh ở mắt là một thấu kính hội tụ -Màng lưới như phim ở máy ảnh.
    +Điểm cực viễn: điểm xa mắt nhất mà ta có thẻ nhìn rõ được khi không điều tiết.
    +Điểm cực cận: điểm gần mắt nhất mà ta có thể nhìn rõ được
    . Kính cận là thấu kính phân kì.







    +Mắt lão nhìn rõ những vật ở xa, nhưng không nhìn rõ những vật ở gần. Kính lão là thấu kính hội tụ. Mắt lão phải đeo kính hội tụ để nhìn rõ các vật ở gần.






    -Kính lúp:
    +Kính lúp là thấu kính hội tụ có tiêu cự ngắn
    +Để dựng ảnh, hoặc xác định vị trí một vật qua kính lúp cần phải đặt vật trong khoảng tiêu cự của kính. Ảnh qua kính lúp phải là ảnh ảo lớn hơn vật





    *Ở Ví dụ1:
    -Dựng ảnh của vật AB qua kính lúp:
    +Ta phải đặt vật AB trong khoảng tiêu cự
    của kính lúp
    +Dùng hai tia đặt biệt để vẽ ảnh A`B`

    b) Để trả lời phần câu hỏi định tính học sinh cần thu thập thông tin có liên quan đến nội dung, yêu cầu bài toán từ đó vận dụng để trả lời.
    Ở ví dụ 1
    -Câu a) Vật đặt trong khoảng nào? Câu b) ảnh gì?
    +Ở đây vật kính là một kính lúp cho nên vật phải đặt trong khoảng tiêu cự mới nhìn rõ được vật. Ảnh của vật qua thấu kính sẽ là ảnh ảo và lớn hơn vật.
    *Các thông tin:
    -Thấu kính hội tụ:
    +Vật đặt ngoài tiêu cự cho ảnh thật, ngược chiều
    +Vật đặt rất xa thấu kính cho ảnh thật có vị trí cách thấu kính một khoảng bằng tiêu cự.
    +Vật đặt trong khoảng tiêu cự cho ảnh ảo, lớn hơn vật, cùng chiều với vật
    -Thấu kính phân kỳ:
    +Vật đặt ở mọi vị trí trước thấu kính phân kì luôn cho ảnh ảo,cùng chiều, nhỏ hơn vật và luôn nằm trong khoản tiêu cự của thấu kính.
    +Vật đặt rất xa thấu kính, ảnh ảo của vật có vị trí cách thấu kính một khoảng bằng tiêu cự
    -Máy ảnh:
    +Ảnh trên phim là ảnh thật, nhỏ hơn vật và ngược chiều với vật.
    -Mắt cận:
    + Mắt cận nhìn rõ những vật ở gần, nhưng không nhìn rõ những vật ở xa.
    + Mắt cận phải đeo kính phân kì.
    -Mắt lão:
    . +Mắt lão nhìn rõ những vật ở xa, nhưng không nhìn rõ những vật ở gần.
    + Mắt lão phải đeo kính hội tụ để nhìn rõ các vật ở gần.
    -Kính lúp:
    +Vật cần quan sát phải đặt trong khoảng tiêu cự của kính để cho một ảnh ảo lớn hơn vật.Mắt nhìn thấy ảnh ảo đó.
    3. Nắm chắc các công thức vật lý, các hệ thức của tam giác đồng dạng,dùng các phép toán để biến đổi các hệ thức, biểu thức :
    * Công thức tính số bội giác:
    G =  
    -Trở lại ví dụ1 : G =  = 
    * Hệ thức tam giác đồng dạng, và các phép toán biến đổi:
    Ta trở lại câu c) ví dụ1:
    c)




    * OA`B` Đồng dạng vớiOAB , nên ta có :
     (1)
    * F`A`B` đồng dạng
    32559
    Thầy Thành ơi, cho mình xin phần mềmWorking Model nhé, Tìm trên mạng mà không có, gởi Email cho mình xin nhé. Cám ơn rất nhiều
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print