Tìm kiếm Giáo án

Quảng cáo

Quảng cáo

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Chủ quyền của Việt Nam với Vùng đất Tây Nam Bộ

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Doãn Đình Tránh
Ngày gửi: 17h:30' 11-11-2017
Dung lượng: 92.3 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích: 1 người (Doãn Đình Tránh)

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ
















Chuyên đề 2

CHỦ QUYỀN VIỆT NAM
ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ




















HÀ NỘI – 4/2016

MỞ ĐẦU
Tây Nam Bộ là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Việt Nam.
Từ xa xưa, vùng đất này đã thuộc chủ quyền của Việt Nam, đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở đây là một bộ phận trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ quyền của Việt Nam, kích động đồng bào Khơme ở Việt Nam và một số người dân Campuchia chống phá quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước, phá hoại hòa bình ổn định và ngăn cản tiến trình phân giới cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia. Đặc biệt, chúng xuyên tạc sự thật lịch sử vùng đất Tây Nam Bộ, kích động ý thức dân tộc hẹp hòi, đòi “độc lập”, “tự trị”, xây dựng tổ chức phản động để tiến tới thành lập cái gọi là “Nhà nước Khơme Campuchia Crôm”, hoặc sáp nhập Miền Tây Nam Bộ vào Campuchia, cản trở công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta.
Nhằm giúp cho cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở có thêm thông tin, tư liệu để đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ, Tài liệu này đề cập một số nội dung cơ bản về cơ sở lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Miền Tây Nam Bộ, tìnhhình và định hướng đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ.
I. CƠ SỞ LỊCH SỬ, PHÁP LÝ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ
1. Vị trí vùng đất Tây Nam Bộ
Vùng đất Tây Nam Bộ (hay Miền Tây Nam Bộ) là cách gọi thông thường chỉ vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở cực Nam của Tổ quốc, phía Đông Bắc giáp thành phố Hồ Chí Minh, Đông và Nam giáp Biển Đông, Bắc giáp Campuchia, Tây giáp vịnh Thái Lan; là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu của vùng Đông Nam Á và thế giới.
Miền Tây Nam Bộ hiện có 12 tỉnh và 01 thành phố trực thuộc Trung ương gồm: thành phố Cần Thơ và các tỉnh LongAn, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2011, tổng diện tích các tỉnh Miền TâyNam Bộ trên 40.548,2 km2 dân số trong vùng trên 17.330.900 người, chiếm 21% dân số cả nước. Có đường biên giới với Campuchia dài 409kmđi qua bốn tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang (từ Nam Tây Ninh đếnmép biển Xà Xía, Kiên Giang); có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài 743 km, có 2 huyện đảo là Phú Quốc, Kiên Hải (tỉnh Kiên Giang).
Dân cư sinh sống ở vùng đất Tây Nam Bộ bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có 4 dân tộc chính là: Việt (Kinh), Hoa, Chăm và Khơme. Người Việt chiếm đại đa số, sống ở hầu hết các nơi trong vùng. Người Hoatập trung nhiềuở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng. Người Chăm sống chủ yếu ở An Giang.Người Khơme có mặt đông đúc ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang.Miền Tây Nam Bộ có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nhất là trong quan hệ với nước láng giềng Campuchia và các nước ASEAN. Đây là vùng sản xuất lương thực trọng điểm; có nhiều tiềm năng, thế mạnh về phát triển nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy, hải sản lớn nhất cả nước; có tiềm năng lớn về dầu khí và du lịch. Vùng Kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cà Mau, với diện tích tự nhiên là 1.786.700 ha, dân số trên 6,5 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số của toàn vùng. Hàng năm Tây Nam Bộ đóng góp 18% GDP, trên 50% sản lượng lúa, xuất khẩu 90% sản lượng gạo và 70%
 
Gửi ý kiến