Banner-giaoan-1090_logo1
Banner-giaoan-1090_logo2

MUỐN TẮT QUẢNG CÁO?

Thư mục

Quảng cáo

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm Giáo án

    Quảng cáo

    Quảng cáo

  • Quảng cáo

    Hướng dẫn sử dụng thư viện

    Hỗ trợ kĩ thuật

    Liên hệ quảng cáo

    • (04) 66 745 632
    • 0166 286 0000
    • contact@bachkim.vn

    ViOLET Chào mừng năm học mới

    quản lý rừng ngập mặn

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đỗ Minh Quốc
    Ngày gửi: 00h:32' 02-09-2017
    Dung lượng: 2.9 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    QUẢN LÍ RỪNG NGẬP MẶN

    SƠ LƯỢC VỀ RỪNG NGẬP MẶN Ở VIỆT NAM
    Diện tích
    Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển kéo dài, có điều kiện tự nhiên phù 
    hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây ngập  mặn. 
    Diện tích và phân bố rừng ngập mặn Việt Nam
    (Đơn vị: ha)
    TT
    Vùng
    Tổng
    Diện tích có
    rừng ngập mặn
    Chưa có RNM
    
    
    
    
    Tổng Cộng
    Rừng TN
    Rừng trồng
    
    
    1
    Toàn quốc
    323.712
    209.714
    57.610
    152.131
    113.972
    
    2
    Quảng Ninh và ĐBBB
    88.340
    37.651
    19.745
    17.905
    50.689
    
    3
    Bắc Trung Bộ
    7.238
    1.885
    564
    1.321
    5.353
    
    4
    Nam Trung Bộ
    743
    2
    2
    
    741
    
    5
    Đông Nam Bộ
    61.110
    41.666
    14.898
    26.768
    19.444
    
    6
    ĐB SCL
    166.282
    128.537
    22.400
    106.137
    37.745
    
    ( Nguồn: Viện điều tra quy hoạch rừng 2007)
    Giá trị của rừng ngập mặn
    
    
    
    
    
    Lợi ích đối với tự nhiên
    Rừng ngập mặn (RNM)  là  rừng  nhiệt  đới  ven  biển, được mệnh danh là “lá phổi xanh” hấp thụ CO2, làm tăng lượng ôxi, có tác dụng điều hòa khí hậu, giảm bớt hiện tượng nóng lên của Trái Đất và sự dâng lên của của nước biển

    Rừng là “ quả thận xanh” rừng có tác dụng hấp thụ khí độc hại thải ra từ sản xuất công nghiệp và khói xe máy, đồng thời trả lại cho môi trường dưỡng khí oxy cần thiết cho quá trình sống của con người, lọc nước thải đổ về, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, trong đất của RNM có các vi sinh vật có khả năng phân giải dầu,...
    Là “bức tường xanh” có vai trò to lớn trong việc bảo vệ đê biển, ngăn được sự xâm hại của nước mặn, thủy triều, lũ lụt,...

    Rừng giúp mở rộng diện tích đất: hệ thống rễ chằng chịt tạo điều kiện cho việc lắng tụ phù sa nhanh, giữ đất, hình thành các bãi bồi mới, các hạt giống và mầm cây từ trong rừng trôi ra được rễ cây giữ lại phát triển thành rừng làm phong phú thêzm quần thể thực vật mới. Kết quả là diện tích đất được mở rộng cùng với rừng cây mới hình thành.

    Là ngôi nhà sinh thái của nhiều loài sinh vật: lá và các bộ phận khác của cây rụng xuống, phân hủy thành chất mùn bả hữu cơ chính là nguồn thức ăn dồi dào của các loài động vật nước.

    RNM còn cung cấp chất hữu cơ và dinh dưỡng như chất đạm và lân cho vùng ven biển từ sự phân hủy của vật rụng, từ đó hình thành chuỗi thức ăn từ những mảnh vỡ vụn của vật rụng và chuỗi thức ăn này là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho các loài thủy sản ven biển. Nhờ có rừng, với nguồn thức ăn dồi dào và hệ thống rễ cây chằng chịt là môi trường sống thuận lợi và là nơi sinh đẻ trú ngụ của các loài thủy sản tôm, cua, cá, nghêu, sò, nhờ đó mà nguồn giống của chúng cũng cao hơn ở những nơi không có rừng.
    Lợi ích đối với con người
    u
    
    
    
    Lợi ích của rừng, trước hết phải kể đến sản phẩm truyền thống là gỗ, củi. Ngoài ra, ta có thể thu nhập từ các nguồn khác như : nuôi ong lấy mật, bán 
    cây giống, khai thác măng tre, khai thác gỗ cốp pha từ cây phi lao và số lượng lớn 
    than  củi…  
    Từ xưa, nhân dân trong vùng đã khai thác gỗ củi để làm nhà ở, chất đốt, đem bán để đổi vải vóc, lúa gạo và các loại hàng hoá thiết yếu phục vụ đời sống. Trong  số  51  loại  cây  rừng  có  30  loài  cung  cấp  gỗ,  củi,  than,  14  loại 
    cung cấp tannin, 24 loài có thể sử dụng làm phân xanh nông nghiệp, 15 loài có thể 
    lam thuốc nam, 21 loài có thể dùng nuôi ong và 1 loài có thể dùng làm đường, sáp ( Phan Nguyên Hồng, 1999).  
    Ngoài việc cho gỗ củi, cây rừng ngập mặn còn có thể làm bột giấy, ván ghép, ván dăm, vỏ cây sản xuất tanin dùng trong thuộc da, nhuộm vải lưới, làm keo dán, cây phục hồi nhanh và có thể khai thác lâu dài. Lá cây, nhất là cây mắm có thể làm thức ăn gia súc rất tốt.
    Cung cấp sản phẩm còn có cây dừa nước rất quen thuộc với đời sống người dân trong vùng, lá lợp nhà rất tốt, lợp kỷ có
     
    Gửi ý kiến