Tìm kiếm Giáo án

Quảng cáo

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Mộng kinh sư - Chương 1

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Xá (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:25' 02-08-2017
Dung lượng: 204.5 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
MỘNG KINH SƯ


Hồi những năm 1990, khi tìm hiểu các tài liệu sử địa, tôi thường xuyên bắt gặp cái tên Phan Du và Quảng Nam qua các thời đại trong các danh mục tài liệu tham khảo. Rồi qua mấy dòng vắn tắt giới thiệu trong Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam (1999) của Nguyễn Q. Thắng, tôi biết ông là con tiến sĩ Phan Quang (1873 – 1939), một biểu tượng Ngũ phụng Tề Phi rạng rỡ đất học Quảng Nam, là em trai sử gia Phan Khoang và anh ruột đại tá Võ Đông Giang (Phan Bá), phó đoàn Đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời tham gia Ban Liên hợp Quân sự Trung ương 4 bên tại Trại Davis. 
Phan Du (1915 – 1983) đa tài. Bút lực không hẳn là dồi dào nhưng trước tác trải trên nhiều lĩnh vực, từ truyện ngắn (Hai chậu lan tố tâm, Hang động mới) đến sưu khảo khoa học (Truyện con người), cả truyện tuổi thơ (Dinh thầy, Của báu nhà họ Vương) cho đến nghiên cứu lịch sử Quảng Nam qua các thời đại.... Nhà văn đã đi vào Từ điển văn học (2004) và vài tuyển tập thơ văn một vùng đất như Văn Liên khu V (1996) hay Văn miền Trung thế kỷ XX (1998) có in lại truyện Con ngựa hai chân của ông nhưng bẵng một thời gian dài, Phan Du chìm khất trong lớp bụi mờ, rất ít người biết đến.


Mới đây, đầu năm 2016, Tao Đàn và Nhà Xuất bản Hà Nội tái bản áng văn Mộng kinh sư (bản in đầu, Cảo thơm, Sài Gòn, 1971) như bước đi ban đầu phục hiện phần nào một hình bóng từng ngự trị trên văn đàn. 
Mộng kinh sư lấy cảm hứng từ dòng chữ tương truyền do một lão tăng ghi trên vách chùa Thiên Mụ năm Ất Dậu (1765): Khả liên nhị bách niên cơ nghiệp, bất cập sơn tăng nhất mộng trường (Thương thay cơ nghiệp hai trăm năm, không dài bằng giấc mộng của nhà sư trên núi). Học giả Giản Chi dịch thơ: Hai trăm năm rót cơ đồ/ Không bằng giấc mộng thầy chùa trên non. Ấy là tiếng thở bất tận, triết lý sống muôn thuở trên cõi đời này. Vị lão tăng nơi lều tranh quán cỏ nhìn ra cảnh “thương hải biến vi tang điền”, thấm đẫm lẽ vô thường của vạn hữu, cảm khái sự hư huyễn của kiếp người và chiêm nghiệm cái nhẽ mong manh của tham vọng mưu bá đồ vương.
Mộng kinh sư đan xen chính sử với dã sử, phối hợp thông sử với địa chí cùng chút hư cấu thành một câu chuyện mạch lạc. Bằng cuộc trò chuyện trong tâm tưởng, tác giả dùng lối viết tùy bút thay cho văn phong khảo cứu khô khan đã làm sống dậy bức tranh bi thương và hùng tráng về đời sống xã hội Đàng Trong (vùng đất từ sông Gianh trở vào). Qua đó, tạo dựng được hình tượng nghệ thuật và thể hiện quan niệm nhân sinh và xúc cảm của riêng mình. Với nhan đề Mộng kinh sư, dường như họ Phan nhắc rằng đây là một tác phẩm văn chương chứ không đặc khảo lịch sử. Và thực tế, kết cấu tác phẩm giống như thể biên niên, gần với ký sự lịch sử hơn là tiểu thuyết lịch sử. 
Câu chuyện mở đầu khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng xây dựng ngôi cổ tự Thiên (Linh) Mụ trên đồi Hà Khê của miền Hương Ngự non thanh nước tú vào năm 1601 cho đến khi đại binh chúa Trịnh dong cờ khua trống kéo vào, chúa Nguyễn thứ chín Duệ Tông bỏ lại sau lưng cung điện, đền đài, thành quách, tôn miêu, lăng tẩm... dạt về phương Nam vào năm 1775. Vận nước đã suy, lòng người đã lìa trong cảnh rồng tranh hổ chọi. Cơ đồ hai trăm năm tất yếu nghiêng đổ không gì cưỡng nổi. Ngôi chùa linh thiêng như chứng nhân cho định mệnh thăng trầm của các chúa Nguyễn.
Tập sách ngân dài khát vọng xoay chuyển càn khôn của anh hùng thời loạn, vẫy vùng lập thân ngoài trận mạc cho thỏa chí tang bồng. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng tìm chỗ dung thân, xây đắp cơ đồ trên vùng đất ô châu ác địa Thuận Quảng. Phá rừng bụi, đuổi hùm voi, bắt thuồng luồng. Chúa Tiên độ lượng khoan hòa, chăm nom quân sĩ, vỗ thương trăm họ, di dân lập ấp... biến vùng đất cô tịch này thành nơi hưng thịnh, phú cường. Các chúa tiếp theo thu phục nhân tâm, trạch dụng hiền tài, chiêu luyện sĩ tốt, quốc pháp công bằng, gầy dựng lực lượng, truyền thụ lễ nghi, xây đắp văn hóa, vạch đôi một cõi sơn hà và bành trướng về phương nam. 
Dưới trướng là kẻ trung trinh, đủ tài thao lược kinh luân, trước phò chúa, sau lập công, giữ lòng ngay thẳng, gặp việc dám nói. Bên cạnh đó còn có
 
Gửi ý kiến