TIỂU SỬ THỦ TƯỚNG CP VÕ VĂN KIỆT


(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Yến
Ngày gửi: 19h:37' 05-03-2012
Dung lượng: 77.3 KB
Số lượt tải: 51
Số lượt thích: 0 người
Võ Văn Kiệt
Võ Văn Kiệt



Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng - Thủ tướng Việt Nam

Nhiệm kỳ
8 tháng 8 năm 1991 – 25 tháng 9 năm 1997

Tiền nhiệm
Đỗ Mười

Kế nhiệm
Phan Văn Khải

Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Nhiệm kỳ
Tháng 3 năm 1988 – Tháng 6 năm 1988

Tiền nhiệm
Phạm Hùng

Kế nhiệm
Đỗ Mười

Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam

Sinh
23 tháng 11 năm 1922(1922-11-23) Tỉnh Cửu Long (nay là Vĩnh Long)

Mất
11 tháng 6 năm 2008 (85 tuổi) Bệnh viện Mount Elizabeth, Singapore

Phu nhân
Trần Kim Anh (mất 1966) Phan Lương Cầm

Võ Văn Kiệt (23 tháng 11 năm 1922 – 11 tháng 6 năm 2008) tên thật là Phan Văn Hòa, bí danh Sáu Dân, là một nhà chính trị Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và sau đó là Thủ tướng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 8 tháng 8 năm 1991 cho đến ngày 25 tháng 9 năm 1997. Ông được nhiều báo chí đánh giá là người đã đẩy mạnh công cuộc Đổi mới và cải cách chính sách ở Việt Nam kể từ năm 1986[1][2], là "tổng công trình sư" nhiều dự án táo bạo của thời kỳ Đổi mới[3][4].
[sửa] Tiểu sử và hoạt động
Võ Văn Kiệt sinh năm 1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long), miền Nam Việt Nam.
Tham gia cách mạng từ năm 16 tuổi trong phong trào Thanh niên phản đế (1938), ông Kiệt được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 năm 1939. Trong thời gian Khởi nghĩa Nam Kỳ ông là Huyện ủy viên, Bí thư chi bộ tại huyện Vũng Liêm. Sau Cách mạng tháng Tám, khi quân đội Pháp tái chiếm Nam Kỳ, ông là Uỷ viên chính trị dân quân cách mạng liên tỉnh Tây Nam Bộ. Từ năm 1946 đến năm 1954, ông là Tỉnh uỷ viên, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Rạch Giá, sau đó là Phó Bí thư rồi Bí thư Tỉnh uỷ Bạc Liêu.
Sau Hiệp định Genève, năm 1955, ông Võ Văn Kiệt được bầu làm Uỷ viên Xứ uỷ Nam Bộ và Phó Bí thư liên Tỉnh uỷ Hậu Giang. Từ năm 1959 đến cuối năm 1970, ông được giao trọng trách là Bí thư Khu ủy T.4, tức khu Sài Gòn - Gia Định. Ông bắt đầu được bầu vào Ban chấp hành Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam từ Đại hội III (năm 1960). Từ năm 1973 đến năm 1975 ông được điều về làm Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh ông Võ Văn Kiệt được Trung ương Cục phân công giữ chức Bí thư Đảng uỷ đặc biệt trong Uỷ ban Quân quản thành phố Sài Gòn. Từ năm 1976 ông là Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Văn Kiệt cũng được bầu vào Quốc hội Việt Nam khóa VI. Từ sau Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1976), ông Võ Văn Kiệt được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị và được phân công làm Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ tháng 2 năm 1987 ông Võ Văn Kiệt được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Thường trực rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng. Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1988, ông giữ vị trí quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng qua đời đột ngột[5]. Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá VIII (tháng 8 năm 1991), ông Võ Văn Kiệt được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (thay ông Đỗ Mười). Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá IX (1992 - 1997), ông được bầu làm Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.
Từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 4 năm 2001, ông không còn giữ các chức danh trong chính phủ nhưng vẫn được Ban Chấp hành Trung ương Đảng cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam[6].
[sửa] Nghỉ hưu và qua đời
Sau khi từ giã chính trường, ông Kiệt sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong 11 năm từ 1997 đến lúc mất, trước mỗi sự kiện nóng bỏng, quan trọng mang tầm quốc gia hoặc ảnh hưởng lớn đến quyền lợi nhân dân, lại thấy Võ Văn Kiệt lên tiếng với tư cách một người công dân[7]. Võ Văn Kiệt là cựu lãnh đạo Việt Nam đầu tiên công khai đặt vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc[4]. Ông cũng đã