sáng kiến kinh nghiệm

(Bài giảng chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ánh Dương (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:24' 30-03-2010
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 558
Số lượt thích: 0 người

PHÒNG GD – ĐT VĨNH LINH
TRƯỜNG THCS CỬA TÙNG


ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH
CÁCH TẠO ĐƯỜNG VIỀN TRỰC TIẾP
TRONG CÁC BÀI VẼ MÔN MĨ THUẬT
TRÊN KHỔ GIẤY A4 HOẶC A3



GV: Nguyễn Ánh Dương
Tổ Năng Khiếu




NĂM HỌC 2008 -2009

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lý do chọn đề tài:
Chúng ta biết rằng quá trình đổi mới sách giáo khoa và đưa bộ môn Mĩ thuật vào giảng dạy bắt buộc trong chương trình dạy- học THCS đã tiến hành được 7 năm. Với mục tiêu dạy - học môn Mĩ thuật THCS không nhằm đào tạo học sinh thành hoạ sĩ ( nghệ sĩ sáng tác) hay những người chuyên làm nghề Mĩ thuật. Môn Mĩ thuật ở trường THCS không đơn giản chỉ là vẽ, mà còn lấy hoạt động Mĩ thuật để nâng cao tầm hiểu biết của học sinh về nhiều mặt như: Đạo đức, trí tuệ thẩm mĩ,…do vậy dạy MT ở trường THCS có các mục tiêu chính sau:
- Giáo dục thẩm mĩ cho học sinh, giúp các em hiểu biết về cái đẹp ở thiên nhiên, của tác phẩm Mĩ thuật, tập tạo ra cái đẹp bằng khả năng của mình, đồng thời biết thưởng thức cái đẹp, vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào sinh hoạt, học tập hằng ngày và cho công việc mai sau.
- Phát triển khả năng tư duy hình tượng, tư duy, sáng tạo, góp phần hình thành phẩm chất con người lao động mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đát nước.
Với mục tiêu như thế ta thấy việc “ Hướng dẫn học sinh trung học cách tạo đường viền (đường bo) trực tiếp - làm khung tranh trong các bài vẽ thực hành môn Mĩ thuật trên khổ giấy A3 hoặc A4” cũng chính là một trong các phần nhằm thực hiện tốt mục tiêu dạy - học bộ môn.
Nhưng trong quá trình dạy - học bản thân tôi nhận thấy cách tạo đường viền (đường bo) trực tiếp làm khung tranh trong các bài thực hành của học sinh còn chậm, chiếm nhiều thời gian, quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế, chưa khoa học, chưa đẹp và hầu như các em tỏ ra không thấy được sự cần thiết của đường viền ( đường bo) tranh trong bài vẽ của mình nên không làm- bài vẽ của chưa hoàn thiện, chưa đẹp.
Sự cần thiết trên là lí do tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm này để cùng các bạn bè đồng nghiệp san sẻ nhằm hoàn thiện hơn mục tiêu dạy - học bộ môn Mĩ thuật THCS.
2. Cơ sở lý luận:
- Nói đến cái đẹp đây là một phạm trù cơ bản , trung tâm của mỹ học, phản ánh giá trị thẩm mỹ tích cực của các sự vật, hiện tượng thuộc hiện thực và tác phẩm nghệ thuật được xem là hài hoà thẩm mỹ, hoàn thiện thẩm mỹ, đem lại cho con người sự yêu thích thẩm mỹ trong sáng, tươi vui, kích thích khả năng tự nhận thức và sáng tạo của con người vì những mục tiêu nhân văn.
- Cái đẹp phản ánh bản chất, mối liên hệ có tính quy luật của các thuộc tính, các yếu tố cấu trúc bên trong, phản ánh các biểu hiện, biểu cảm cụ thể - cảm tính, bề ngoài của các sự vật, hiện tượng thuộc hiện thực. Trong phạm trù cái đẹp cũng thể hiện mặt chủ quan của con người nhận thức cơ sở khách quan nói trên. Cái đẹp phản ánh mối quan hệ của chủ thể thẩm mỹ đối với khách thể thẩm mỹ, đối tượng thẩm mỹ nằm trong hiện thực.
- Cái đẹp nghệ thuật là một hình thức cao của cái đẹp thuộc sáng tạo thực tiễn – tinh thần của con người, trong đó tác phẩm nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật đạt tới sự hài hoà thẩm mỹ và hoàn thiện thẩm mỹ. Một tác phẩm nghệ thuật đẹp gồm ba yếu tố cơ bản tạo thành: Phản ánh chân thực, sáng tạo cuộc sống con người, xã hội trong tính toàn vẹn, đa diện, cụ thể sinh động của chúng; - Có sự hài hoà và hoàn thiện thẩm mỹ về nội dung, về hình thức; - Sự chân thành, nồng nhiệt của tình cảm nhân đạo, sự tỉnh táo, triệt để của ý thức xã hội tiên tiến được nghệ sĩ gửi gắm vào tác phẩm nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật. Một tác phẩm nghệ thuật đẹp là một người bạn - người thầy nâng đỡ và hướng dẫn công chúng đi tới chất người, có tính nhân văn, nhân đao đích thực.
Một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo cũng được xem là cái đẹp- tác phẩm nghệ thuật đẹp là tác phẩm có vẽ đẹp hoàn thiện.

3. Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình dạy- học bản thân tôi nhận thấy sự cần thiết của đường bo tranh trong các bài vẽ thực hành của học sinh.
Khi đánh giá kết quả học tập